Thursday, October 9, 2014

Chốn Vắng (Kỳ 90 - 100)‏

Kỳ 90


Cuộc gặp nào cũng kèm theo những bữa ăn thịnh soạn. Nguồn sinh lực dồn tích không lối thoát thường xuyên dẫn đến những cơn đau đầu dữ dội, hoặc những khoảng khắc đột ngột choáng váng và mất trí nhớ. Ðêm đêm, anh như kẻ ra đấu trường đơn lẻ, đơn lẻ chiến đấu với sự hành hạ của chính thân xác mình. Ðêm đêm, anh gọi tên vợ thức dậy với manh quần bẩn, với thân xác mỏi nhừ và trạng thái tinh thần u ám như kẻ bị ma đè. Hoan biết giới tu hành có một thứ thuốc bột hiệu nghiệm uống lẫn với nước lá rau dăm. Anh muốn nhờ chị Nền đi tìm cho thứ thuốc diệt dục ấy nhưng không dám. Hai bà chị đều thầm mong cho anh tìm được người đàn bà mới, có hạnh phúc mới. Bởi, họ biết Hoan nặng lòng với Miên nên chẳng ai dám nói ra lời. Nhưng lúc này hoặc lúc khác, anh thấy xuất hiện các cô gái đã chín tuổi lấy chồng, hoặc những người đàn bà tuy dở dang nhưng còn son trẻ. Và những người ấy, như đám chim mồi, lượn lờ không mệt mỏi trước cửa hàng nhà anh chuyện trò thân tình với hai bà chị, tất cả đều chờ đợi một cơ may khi anh quên được người đàn bà xóm Núi. Hoan thấy họ tội nghiệp. Anh không còn là gã khờ năm xưa để sa chân lần nữa.

Nhưng những cơn sốt dục tình không ngừng tra tấn anh. Rồi dịp nào đó, bỗng dưng người ta giới thiệu anh tới bà chủ quán Cổ Truyền. Ðó là một quán ăn lạ kỳ, cửa hàng không nằm ngoài mặt phố mà ở trong ngõ kín. Khi tới đấy, Hoan đã phải để xe lại để thả bộ vào trong con hẻm nhỏ, lối cong queo, có rất nhiều cây cột điện thời cũ được vá víu dựng lại, nhà cửa nhỏ bé lộn xộn, cái tường ghép gỗ, cái xây gạch cao thấp chen nhau nhưng nhà nào cũng trồng một giàn hoa giấy phía trước nên khắp ngõ xác hoa giấy như rải thảm.

Quán nằm ở cuối ngõ. Một tấm bảng gỗ mộc sơn hai chữ CỔ TRUYỀN bằng hắc ín. Nhà thấp lợp ngói, bàn ghế trong quán đóng theo kiểu cổ, thuần bằng gỗ mộc, ám khói và nhẵn bóng mồ hôi. Tường không tranh, không hoa giả, không đèn điện trang trí... Tóm lại không một chi tiết nhỏ nhặt nào của đời sống hiện đại lọt vào đây và bởi thế, quán ăn này hoàn toàn như một quán ăn từ vài trăm năm trước phục chế lại. Chủ quán là một bà lão sáu mươi lăm nhưng tinh tường, khỏe mạnh, vừa oai vệ vừa ranh ma. Tóc trắng phơ cuốn lên bằng một cây trâm đồi mồi, quần áo lụa đen kiểu cổ nhưng tay lại đeo đồng hồ hãng Quac, trông bà nửa như tiên nửa là phù thủy. Quán Cổ Truyền nổi tiếng với các món ăn cầu kỳ tốn kém thời gian dẫu là món bình dân: Lươn om, ốc om, cá nướng lá chuối, cá trê nấu mẻ, xôi trắng ăn với ruốc cá rô... Nhưng bà chủ còn nổi tiếng hơn các món ăn của bà vì bà biết bắt mạch Thái Tổ, chỉ cần xem mạch đủ biết vận mệnh, hung cát. Và biết chế tác những phương thuốc bí truyền nhằm kích dục hay diệt dục, bà có thể chữa bệnh vô sinh cho kẻ này hoặc trục thai cho người khác. Cả những ông chồng bất lực đứng đắn và đau khổ lẫn bọn Sở Khanh ma cô đều phải tới cậy cục trước cửa nhà bà. Ông chồng đã quá cố của bà vốn người Tàu, một thầy thuốc lừng danh nhưng không chống lại được vận mạng đã chết trước bà hơn một thập kỷ. Chính ông đã truyền cho bà các ngón nghề bí hiểm. Hơn nữa ông còn truyền cho bà sự ngoan cường và lòng kiêu hãnh ít ai bì. Bởi thế, tuy bà chỉ là một bà già bình thường nhưng đám người có quyền chức trong thành phố cũng phải kiêng nể.

Khi Hoan gặp bà, bà đang ngồi chơi bài một mình trong phòng riêng. Bà rót cho anh một chén chè tí xíu rồi nói:

- Người ta sống thuận theo lẽ trời là tốt nhất. Cậu có chữ chắc hiểu, khi âm dương giao hòa khí huyết ắt lưu thông, mọi tương năng tương hỗ khác nhờ theo đó mà thịnh... Nếu đã cài then sập cửa, ắt ngôi nhà phải tối tăm, ngột ngạt, không nơi này thì ngã kia tù đọng, hôn ám...

Hoan im lặng. Anh không thể và không có thói quen giãi bày tình cảnh trước người thứ hai. Anh chỉ nói:

- Cảm ơn bà. Nhưng cháu cần thứ thuốc ấy.

Bà nhìn anh với cái nhìn ngao ngán lẫn chút tò mò rồi đưa cho anh thứ thuốc bột màu nâu. Anh đã uống thứ thuốc tiết dục đó, ngày ba lần sau bữa ăn, mỗi lần một thìa cà-phê đầy. Sau ba tuần mọi nhu cầu sinh lý hoàn toàn biến mất... Nhưng anh cảm thấy anh trở thành một kẻ khác. Anh rất thích ngủ, mỗi ngày ngủ đến mười hai giờ. Tay chân anh không còn ấm nóng mà lạnh đi, da anh xanh và anh đi đứng chậm rãi như kẻ chán chường. Ðôi khi, chính anh cũng sợ anh khi thấy anh trống rỗng, không muốn suy nghĩ, không muốn quan sát mọi vật, nửa như sống nửa như vất vưởng đâu đó bên ngoài cõi đời. Hai bà chị hoảng sợ hoảng sợ tìm thầy thuốc. Nhưng Hoan gạt phắt đi. Giờ, anh đã hiểu lời bà lão. Anh biết anh phải lựa chọn giữa hai trạng thái bệnh hoạn. Và anh lựa khả năng thứ hai. Bởi anh còn muốn sống như một người đàn ông khỏe mạnh, tỉnh táo. Anh còn phải làm việc cho con trai anh, cho những người thân của anh, cho người đàn bà anh chưa ngớt yêu dấu...

Uống liền mấy cốc bột sắn, Hoan ngồi bóp thái dương lẫn đỉnh đầu một lúc lâu cơn đau mới dịu. Anh tới nhà Căng. Ở đó, qua buổi trưa anh không dám uống rượu chỉ ăn hai bát cơm với đậu phụ luộc chấm tương. Gã bạn buôn cười hô hố:

- Sao anh khốn khổ thế?... Một thằng gốc gác dân cày như tôi cũng chẳng cam lòng chịu đói như anh.

Vốn tính kín đáo, Hoan không có thói chuyện trò bả lả với ai. Bị người khác dò đúng căn bệnh, anh đâm lúng túng, mặt đỏ bừng.

Căng chăm chú nhìn anh, vẻ tò mò hớn hở, dường như gã vừa bắt được món tiền lớn:

- Chết nỗi, sao anh lại đỏ mặt tía tai lên như vậy?... Thật không ngờ, tới hôm nay tôi mới trông thấy gáy nhà buôn lớn nhất sáu tỉnh miền Trung.

Hoa đáp:

- Ai cũng có phần ngờ nghệch. Tôi không phải người quen thuộc chốn ăn chơi.

- Thế anh tưởng tôi là kẻ ăn chơi à?...

Căng cao giọng vặn lại. Rồi không chờ Hoan trả lời, hắn tiếp:

- Bốn đời nhà tôi cơ cực nên tôi chẳng dại dột ném tiền vào chốn cờ bạc gái trai... Anh biết rõ tôi đấy: Tiêu một hào tôi cũng cân nhắc bảy lần. Một bữa tiệc chốn thị thành nuôi được cả gia đình dân cày trong vài tháng mà họ hàng chú bác bên nội bên ngoại của tôi còn ở tất tật chốn bùn lầy. Tôi vẫn phải cưu mang họ... Nhưng vấn đề chính tôi nói với anh chẳng phải chuyện chơi bời mà là phép vệ sinh. Anh bỏ qua cho tôi, thật ra cái... việc đó cũng giống như việc vào hố xí. Người ta có ăn thì có ỉa, uống bia vào thì sớm muộn hai ba tiếng sau cũng phải đái ra. Ðố ai giữ nổi các thứ bã thải trong thân xác.

Hoan đáp:

- Tôi không quan niệm như thế.

Căng giương mắt nhìn anh chằm chằm:

- Trước khi tôi sống độc thân ở thành phố này tôi cũng đã có vợ. Trước khi có vợ tôi cũng đã yêu. Và tôi cũng nghĩ như anh rằng người ta chỉ có thể ngủ được với người đàn bà họ yêu thôi... Nhưng sự đời chẳng thế.



Kỳ 91

Tiếp theo


Hoan im lặng. Và bất chợt buông tiếng thở dài. Gã bạn buôn kia nói đúng. Cha anh dạy anh rằng người đàn ông chỉ hạnh phúc với người đàn bà họ yêu. Và anh hoàn toàn tin vào điều đó. Nhưng cuộc làm tình đầu tiên của anh với cô Kim Liên cũng đem cho anh sự thỏa mãn, dù anh chẳng biết cô ta là ai và cuộc làm tình đó diễn ra trong trạng thái mơ ảo... Và rồi nữa, những cuộc làm tình với người đàn bà xóm Hà trong cây chòi cất rớ ven sông Lệ Nhật... Những đêm ấy anh cũng đã leo tới đỉnh ngọn triều khoái lạc, dù chẳng là thứ khoái lạc vẹn toàn của hạnh phúc như anh từng nếm trải với Miên... Có lẽ, những điều Căng nói là sự thật. Có lẽ người đàn ông cần tìm một nguồn mạch giải tỏa cơn khát dục tình giống kẻ lữ hành trên con đường xuyên núi khô khan phải làm nguôi cơn khát bằng vũng nước bất kì bắt gặp... Và anh chợt nhớ tới Miên, chị vẫn phải chung đụng với một người đàn ông chị không còn yêu nữa. Vậy những cuộc làm tình đó cũng ở bên ngoài hạnh phúc, bên ngoài cái chuẩn mực tình yêu mà cha anh đã dạy anh...

Căng vẫn không rời mắt nhìn Hoan, lúc đó tiếp lời:

- Hoàn cảnh anh khác tôi. Vợ anh không hư hỏng do hoàn cảnh bắt buộc phải xa anh... Anh vẫn có thể thương yêu chị ấy, nhớ nhung chị ấy và vẫn có quyền tìm một người đàn bà nào khác để xả những thứ rác rưởi tồn đọng trong thân xác.

Hoan vẫn biết có cái nghề cổ xưa như trái đất. Và nghề đó thời nào cũng tồn tại dù công khai hay lén lút. Hẳn nó là thứ nghề phục vụ cho những gã đàn ông rơi vào cảnh khốn khó như anh hoặc những kẻ thiếu hụt tiền tài hay khiếm khuyết nhân dạng chẳng thể tìm nổi một người đàn bà thương yêu mình...

... Phải, mọi thứ đều cũ mèm như trái đất. Trước ta cũng đã có hàng triệu người đàn ông và sau ta cũng sẽ có hàng triệu người nữa rơi vào cảnh ê chệ này...

Anh nghĩ. Nhưng anh vẫn cảm thấy hổ thẹn và lẫn chút trắc ẩn khi nghĩ tới việc tới lầu xanh để tìm một cô gái lầu xanh.

Chừng như đoán rõ những ngại ngần trong anh, Căng lên tiếng:

- Thôi đi, hàng hóa nào cũng cần kiểm nghiệm. Tối nay theo tôi. Anh sẽ thấy chẳng cần tư lự nhiều như thế. Sự đời đơn giản. Ta mua một món hàng và trả đúng giá, như các cụ đã nói từ xưa: Ăn bánh trả tiền.

Rồi Căng liếc đồng hồ. Anh ta có cái hẹn khác vào lúc một giờ rưỡi. Gã đàn ông này là cái máy kinh doanh, là con bệnh khát tiền, làm việc không kể đến thân mình bất kể loại công việc nào dù thượng vàng hạ cám. Hoan biết thứ kinh doanh khốn khổ như thế thường chẳng đem lại bao nhiêu lợi lộc cũng giống những người buôn từ nước mắm tới bấc dầu đèn dù xoay sở quần quật như trâu cũng khó kiếm nổi một số hời cho ra tấm ra món và khó có cơ ngoi lên được:

... Vậy mà gã nhà que đo lọ nước mắm đếm củ dưa hành này lại là kẻ khai tâm cho ta ngày hôm nay. Ðời quả nhiều bàn cờ nhiều ván cờ, anh thắng bàn này sẽ thua bàn khác...

Hoan thầm nghĩ. Anh chào gã, ra về. Tới nhà, anh lao vào buồng ngủ một giấc tới tận ba giờ chiều mới phóng xe ra tắm biển. Khi trở lại, Căng đã đứng trước quầy thu tiền tán gẫu với chị Châu.

- Tôi chờ anh đã ba mươi lăm phút.

- Xin lỗi, tôi tưởng anh tới muộn hơn.

- Anh chưa ăn bữa chiều ngoài bãi biển đấy chứ?...

Căng hỏi, nháy mắt một cách bợm bãi:

- Nghe nói ngoài bãi biển có món tôm tươi luộc ngon lắm?...

Hoan không đáp. Hai bà chị anh đang đứng ở đó. Những người đàn bà của thời cũ không bao giờ dám nghĩ đến loại chuyện suồng sã như vậy. Hoan đi thẳng vào nhà tắm cất quần áo, thay bộ đồ mới rồi quay ra.

- Nào đi...

Anh quay lại dặn:

- Tối nay em không ăn cơm nhà.

Họ cùng lên xe, nổ máy phóng đi. Hoan hỏi:

- Ði đâu?

- Ðến tiệm ăn Tàu.

- Tiệm nào?

- Cao lâu đường Trần-Phú.

Ngừng lại vài giây, Căng nói tiếp:

- Trước khi tìm thú thanh lâu nên ăn món ăn của người Tàu. Ấy là bài học dân Chợ Lớn thứ thiệt đã dạy tôi.

Khi họ dựng xe, vào quán ăn, Căng lại bảo:

- Anh trả tiền chầu ăn. Tôi trả tiền chơi. Như thế công bằng.

Hoan đáp:

- Tôi sẽ trả cả hai chầu, yên tâm.

Căng cười hơ hớ:

- Hôm nay tôi gặp may.

Lúc hai người ngồi xuống bàn ăn, anh ta nói thêm:

- Nhưng kẻ may mắn không chỉ là riêng tôi... Rồi anh sẽ thấy ...

Ðoạn quay vào phía trong, anh ta lớn tiếng gọi:

- Cho thực đơn ra đây...

Ðám người hầu bàn Dạ ran trong bếp. Tiếng dạ đặc biệt chỉ có ở các quán ăn Tàu, nó vừa như thứ tín hiệu đáp lời vừa như giọng nhại phía sau cánh gà sân khấu, thuần có ý nghĩa hình thức. Bởi năm sáu tiếng Dạ cùng nhất loạt cất lên nhưng phải chờ hai mươi phút sau mới có một gã trai cao lêu đêu chạy tới. Gã chìa cuốn thực đơn dày cộp, nói:

- Dạ, hai ông kêu trước đồ uống gì?

- Rượu, rượu bổ... Cho loại thượng thặng ấy...

- Dạ...

Gã cò hương quay lưng chạy đi và chừng mươi phút sau gã trở lại với chiếc khay nhỏ bày chai rượu thuốc, hai chiếc ly thủy tinh với vài đĩa đồ nhắm chơi cho vui miệng. Ðặt khay rượu lên bàn, gã lại rút cuốn thực đơn ra, cất tiếng:

- Giờ, xin hai ông gọi món chính.

Căng đặt món chim hầm bát bảo và cá hấp thịt lợn nấm hương. Anh ta gọi cho Hoan bát súp bào ngư với tô gà tần cung đình, loại già đen nhỏ chỉ độ ba bốn lạng tần với các vị thuốc bổ nhằm bồi dưỡng tinh lực vua chúa hoặc các hoàng thân đế thích xưa ưa dùng. Khi gã bồi chạy đi, Căng hỏi:

- Anh biết thứ rượu: Thang vua Minh Mạng này chưa?

- Chưa.

- Ðó là thứ rượu được sáng chế thời Minh Mạng. Vua dùng thứ rượu này và có tới một trăm mười tám người con. Nó nổi tiếng đến nỗi trong xứ ngoài xứ đều biết và được đặt tên là: Nhất dạ lục giao sinh ngũ tử.


Kỳ 92


Hoan có biết chút tiếng Hán Việt nên anh kinh ngạc hỏi lại:

- Nghĩa là một đêm gặp sáu người đàn bà và thụ thai năm đứa con? Anh không nghe nhầm đấy chứ?

- Nhầm thế quái nào được?... Tôi chẳng biết tí tiếng Hán nào nên kẻ cho tôi uống thứ rượu này lần đầu đã phải giảng tường tận cái tên đó... Và chẳng giấu gì anh, tôi cũng đã thử khá nhiều lần. Nào, ta thử đi... Rồi đêm nay anh sẽ thấy...

Gã cất tiếng cười rất lớn, đầy tự tin trước khi mở nút rót. Hoan nhìn chất nước màu mận chín trong chiếc ly thủy tinh, vừa nghi hoặc vừa háo hức. Anh thấy mình như thằng bé con bị dẫn dụ bởi một tên ma cô hay một gã cò mồi:

... Chẳng sao hết, cuối cùng thì tất cả mọi người đều phải trả giá cho sự hiểu biết, cũng như ta...

Anh tự an ủi và dốc cạn ly rượu đầu tiên. Sau ly rượu đó, anh tự rót tiếp ly thứ hai, thứ ba, tự thấy phấn chấn, nói nhiều hơn, cười to hơn, và khi kín đáo liếc mình trong tấm gương ám khói treo tường anh kinh ngạc thấy một gã đàn ông khác, khác hoàn toàn cái tôi của mọi ngày, gã nhìn anh với cái nhìn đầy khiêu khích. Không hiểu thứ rượu thần kỳ kia hay những món ăn cung đình khiến anh rơi vào trạng thái hưng phấn lạ lùng ấy. Rồi, trong cái quán ăn ngào ngạt mùi xào nấu, ngột ngạt khói thuốc, ầm ĩ tiếng người bỗng vang lên một khúc hát anh yêu thích và anh vô tình khe khẽ hát theo:

... Ta đã từng rơi vào bẫy sau những chén rượu đỏ ở nhà mụ Kim Lan. Bây giờ, ta sẽ tự tìm đến một cái bẫy khác sau những ly rượu màu mận chín, những ly rượu thuốc của ông vua cường dâm. Ngày xưa, ta là thằng bé con lớ ngớ. Giờ, ta là gã đàn ông đói dục tình. Ta có quyền làm mọi điều ta ưa thích...

Ý nghĩ ấy vang lên trong anh như một câu hát, vui vẻ, sỗ sàng, cợt nhả. Một thứ màu sắc anh chưa từng thấy trong đời, sẽ làm quen với một cuộc đời khác hay với hương vị khác của cuộc đời?... Thây kệ...

Căng nhìn anh với cặp mắt ranh mãnh. Mặt gã đỏ phừng phừng.

- Ði chưa?

- Ði.

Hoan vẫy hầu bàn, thanh toán tiền rồi họ rời quán ăn. Hai người lên xe phóng tới nhà Căng, cất xe máy ở đó thả bộ theo phố. Hoan không nhớ những dãy phố anh đã qua, bao nhiêu ngã tư và bao nhiêu lần rẽ. Anh đi theo Căng, chẳng nghĩ ngợi gì, miệng lẩm nhẩm hát những câu hát cũ và đôi lúc cười tủm một mình. Sau cùng, họ tới dãy phố nhỏ có nhiều cây bàng còi cọc. Căng bước tới một quầy thuốc lá lẻ:

- Có thuốc sẵn đấy chứ?

Sau quầy nhô lên một gương mặt đàn ông, một gương mặt đầy phè thịt và dù ánh đèn đường tù mù, cũng thấy lần xần những mụn. Gã bán thuốc há miệng cười:

- Lúc nào cũng có, nhưng phải sơ tán xa.

Căng gật:

- Cũng được.

Gã hỏi tiếp:

- Nhảy dù hay qua đêm?

Căng bảo:

- Qua đêm.

- Một mình ông hay cả hai?

- Cả hai.

- Ði riêng hay đi bè?

- Riêng.

- Tôi hiểu rồi.

- Giá cả ra sao?

- Như cũ.

- Ðược. Ði thôi.

- Khoan đã. Giờ này cá lạ đứng đường. Các ông phải chờ nửa giờ nữa tới phiên gác mới.

- Thì chờ. Lại ra quán cóc vậy.

- Phải. Thu Cúc vẫn ngồi chỗ cũ.

Căng kéo Hoan đi. Họ tiếp tục đi một đoạn nữa tới quãng tối, ngồi xuống vỉa hè uống nước chè bình dân. Ðó là thứ quán lưu động thường gọi là quán cóc. Cóc nhảy. Người bán quán cóc vác đồ đạc và xách ấm nước chè chạy từ xó này qua xó khác trước cây dùi cui của cảnh sát. Nhưng các quán cóc vẫn tồn tại nguyên xi. Khi là món tiền lót tay luồn vào túi nhà chấp pháp, khi là sự kiên nhẫn chờ đợi phút nản lòng của luật lệ, người ta lại đặt chiếc thúng tre lên vỉa hè, quăng vài ba chiếc ghế đòn cho khách xung quanh. Trên thúng đặt chiếc mẹt tre và trên mẹt là tất thảy hàng hóa có thể có: Dăm túi mực nướng, dăm túi kẹo lạc hay kẹo bột, dăm gói lạc rang, mấy chiếc chén cáu để uống chè và vài ba ly thủy tinh nội địa để uống rượu. Ấm chè ủ trong giỏ, còn chai rượu giấu dưới thúng. Lúc hai người bước tới, trên mẹt của chủ hàng thắp cây đèn dầu. Người đàn bà bán hàng có gương mặt tăm tối ngồi như tượng phía sau. Căng hỏi:

- Nước nguội ngắt rồi chứ?

Người đàn bà không trả lời. Căng kéo Hoan ngồi xuống:

- Anh cao to ngồi thứ ghế đòn này hơi khó chịu... Nhưng phải chấp nhận thôi... Anh đã khát chưa?

- Chưa.

Căng quay lại bảo người bán hàng:

- Chúng tôi không uống nước... Này cầm tiền cho thuê chỗ ngồi.

Ðoạn dúi vào tay chị ta tờ bạc. Thiếu phụ trạc ngoài bốn mươi cầm tờ bạc đút vào túi áo với vẻ thờ ơ, như chẳng thèm để tâm tới. Mặc dù gương mặt u ám, chị ta có một vẻ kiêu kỳ lạnh lẽo kín đáo và huyền hoặc. Tấm khăn chị trùm đầu in hoa rất rực rỡ, cũng rực rỡ như tấm áo chị đang mặc. Anh hình dung dưới ánh mặt trời, hẳn những màu sắc đó sẽ hân hoan như tuổi trẻ và đẹp một vẻ đẹp chọn lựa.

Những người bán quán cóc thường tìm cách trò chuyện với khách và nói chung họ là những kẻ nhiều lời nhưng người đàn bà này lại câm lặng như pho tượng, vẻ dửng dưng của chị ta khiến Hoan kinh ngạc. Sau khi nhét tiền vào túi, chị ta rút một miếng mực nướng, xé từng sợi nhỏ bỏ vào miệng bộ dạng giống như đứa bé ăn quà. Thấy anh ngồi yên lặng, Căng rút thuốc mời:

- Anh có hiểu gì về thế giới của những người đàn bà ăn sương không?

- Không.

- Ðây là lần đầu anh đi thông cống?

- Phải.

- Vậy tôi giải thích đôi điều. Gái làng chơi ưa dùng tiếng lóng. Thứ tiếng đó nghe vui tai hơn tiếng của đám đông. Ví dụ, nếu anh chỉ ngủ với họ một lần người ta gọi là anh nhảy dù. Nếu thuê trọn đêm anh có thể làm tình một, hai, ba, bốn lần như lũ đàn ông động đực bình thường hoặc bảy, tám lần như đứa vua Minh Mạng, tám chín lần nếu anh còn đủ sức... Như thế gọi là đi tàu suốt...



Kỳ 93


Tới đó, người đàn bà bán hàng bỗng đập vào cánh tay Căng:

- Họ kêu ông kìa.

Cử chỉ của chị ta có một vẻ thân tình và sỗ sàng rất bất ngờ.

Hoan kinh ngạc nhưng Căng tỉnh bơ quay sang nhìn quầy bán thuốc lá lẻ đầu phố. Chiếc đèn dầu hỏa đặt trên tủ kính đang trượt đi trượt lại mấy lượt liền. Căng vụt đứng dậy:

- Ði thôi.

Trước khi đi, anh ta còn quay lại nhoẻn miệng cười với thiếu phụ:

- Sao tối nay dịu dàng nết na thế?

Người đàn bà không đáp, cúi xuống thu dọn ghế đòn bỏ vào thúng cùng những thứ hàng hóa khác rồi cắp thúng đi theo họ. Gã bán thuốc đang đi đi lại lại bồn chồn phía sau tủ:

- Cá quen đến rồi, các ông đi đi.

- Ai dẫn đường đêm nay? Căng hỏi.

Gã bán thuốc hất hàm chỉ người đàn bà bán quán cóc:

- Ðó.

Ðoạn gã bảo chị ta:

- Ngõ số ba, nhớ chưa Thu Cúc...

- Nhớ.

Chị ta cất lời, giọng trầm khàn như giọng đàn ông. Hoan lần nữa tò mò nhìn người thiếu phụ tàn úa có cái tên mỹ miều kia. Ánh đèn đường quá mờ nên anh không thể thấy gì hơn ngoài một gương mặt võ vàng dưới tấm khăn hoa sặc sỡ quấn kiểu dân Chàm. Người đàn bà đi trước, Căng dẫn Hoan theo sau. Họ vào một ngõ nhỏ, đi lòng vòng qua những ngôi nhà thấp bé, vá víu, kiến trúc nửa quê nửa tỉnh bằng tất thảy những thứ phế liệu nhặt nhạnh được. Những căn nhà lồng ghép, chồng chất chằng chịt tựa cuộc đời đám dân tứ xứ tụ bạ về đây sau chiến tranh, chúng giống đám ốc bươu con nọ bám lưng con kia, cụm này kề cụm khác... Chỉ mới vài năm sao cuộc sống nơi đây đã kịp sinh sôi nẩy nở và cũ kỹ đi nhanh làm vậy. Hai người chui qua những hàng dây thép phơi quần áo, vượt qua những mảnh sân méo mó dị hình, bước qua các đống rác tú hụ chưa kịp hốt và sau rốt leo lên một cây cầu thang ghép bởi những mảnh ván cốp-pha chưa kịp bào nhẵn xấu xí thô lậu. Hoan chưa đặt chân tới khu vực này lần nào, thậm chí anh cũng không tưởng tượng có một khu dân cư tăm tối thế trong thành phố quê hương anh. Trước chiến tranh, khu nhà này chưa hề có. Ðây là đám bèo dạt sau những năm tháng đạn bom. Hoan bảo Căng:

- Nói chị ta đi chậm chậm một chút...

Anh không muốn nói thêm rằng anh chưa quen đi trong những lối lắt lẻo, bẩn thỉu và dưới thứ ánh sáng nhập nhoạng này. Căng gọi với lên:

- Thu Cúc, đợi với...

Nhưng người đàn bà vẫn bước vùn vụt, như không nghe thấy hoặc giả bộ không nghe thấy. Căng buộc phải đuổi theo chị ta. Và Hoan buộc phải đuổi theo gã. Vì to lớn kềnh càng nên anh thật khổ sở mới theo kịp hai kẻ đi trước. Sau cùng, họ dừng lại trước một cánh cửa lớn, gỗ sơn nâu. Người đàn bà đập thình thình vào cánh cửa đoạn kéo sợi dây chuông. Tiếng leng keng rất nhỏ vang lên phía sau bức tường. Cửa mở hé. Người đàn bà dẫn đường quay ngoắt đi và nhanh như mèo chị ta biến mất. Khuôn cửa hé mở ló ra màu đỏ của một tấm màn, một thứ ánh sáng vàng vọt dơ dáy chiếu xuống. Khung cảnh khiến Hoan bất giác chùn chân lại. Chừng như đoán được sự ngại ngần của Hoan, Căng túm cánh tay anh lôi đi theo:

- Nhảy xuống nước đi, như lần đầu tập bơi vậy... Anh không còn ở tuổi ấu nhi...

Hai người bước vào khoảng không gian vàng khè hình chữ nhật. Tấm màn đỏ giăng trước mặt họ từ bức tường bên trái qua bức tường bên phải. Chính giữa treo một bóng đèn ám khói, không chao. Không để Hoan có thời giờ suy nghĩ, Căng hỏi:

- Sau tấm màn kia là hai gian buồng đi khách. Anh lấy gian bên trái hay bên phải?

Hoan đưa mắt nhìn tấm màn đỏ lem luốt những vết son phấn, vết dầu mỡ vết nhọ nồi và hàng đám những vết bẩn khác không thể đoán được lai lịch. Căng không đợi anh trả lời, nói tiếp:

- Sau tấm màn đỏ này căn phòng ngăn làm đôi, chúng ta sẽ được hưởng cái thú nghe lẫn nhau, coi như ăn một món hai lần. Tôi chọn cho anh gian buồng bên phải. Với người tập sự, hướng đó thuận tiện hơn.

Nói rồi Căng dắt tay Hoan tới bức tường bên phải, vén tấm màn đỏ đẩy anh vào trong và quay lưng đi ngay. Hoan nghe tiếng chân gã bước sang gian buồng bên kia và giọng nhẹ nhàng của một người đàn bà cất lên:

- Lâu lắm mới thấy mặt anh...

Tới đó, hai bàn tay của một người đàn bà khác từ phía sau lưng Hoan vươn qua vai anh, lướt trên cổ trên cằm xiên qua hai má và dừng lại mơn trớn nơi trái tai anh:

- Lần đầu hả anh?...

Giọng người đàn bà này trầm hơn người ở buồng bên kia. Hoan không đáp. Anh không biết mình nên trả lời ra sao. Anh đứng im như tượng. Hai bàn tay đó tiếp tục ve vuốt, những chiếc móng khẽ cào qua vành tai anh, hai ngón út từ từ ngoáy vào lỗ tai anh và giọng chị ta lại cất lên, lần này rõ rành hơn, mơn trớn hơn:

- Ðừng sợ... Ðừng sợ...

Hoan rùng mình. Da thịt đàn bà đang áp sát vào lưng anh, hơi nóng xuyên qua lớp vải truyền sang da thịt anh, bắt đầu từ hai mông lan dần lên lưng tỏa xuống cặp đùi. Nhưng anh vẫn đứng im lặng. Anh vốn có thói quen im lặng khi ở những hoàn cảnh phức tạp hoặc vào những lúc anh chưa tự chế ngự được cảm xúc lẫn tinh thần. Anh ngửi thấy mùi thuốc sát trùng của bệnh viện, dù thứ mùi đó đã trộn cùng mùi son phấn, mùi xà-phòng tắm và nhiều thứ mùi không rõ rệt. Hoan không hiểu vì sao nơi gái ăn sương kiếm sống lại có mùi thuốc khử trùng, và nỗi băn khoăn đó lởn vởn trong óc.

- Anh lại giường đi chớ?... Sao đứng mãi như trời trồng?... Giọng người đàn bà phía sau lưng lại cất lên và lần này làn hơi ấm phả qua mang tai Hoan. Hoan không biết anh sẽ đáp lời hoặc sẽ im lặng quay lại kéo cô ta xuống chiếc giường phủ tấm vải hoa tối màu kê cách anh vừa một sải chân. Những chiếc móng tay nhọn của người đàn bà rút từ vành tai anh xuống, nhè nhẹ kéo tấm áo sơ-mi gài trong lưng quần anh rồi chúng thò vào trong, lướt dọc theo sống lưng. Một cảm giác lạ lùng khiến anh sờ sững. Những chiếc móng tay kia chẳng dính líu gì đến anh, chúng chẳng là tài sản của anh, chẳng thể so sánh chúng với da thịt, hay môi mắt người đàn bà anh yêu, nhưng chúng gợi nên một thứ êm dịu anh chưa từng thụ hưởng. Cảm xúc này giống như thứ gió lạ, không phải gió quen thuộc hằng luân chuyển giữa trời cao, trên biển bờ đồng bãi núi đồi, mà là thứ gió âm u của hang động không rõ xuất xứ không dè lành độc nhưng nó du con người vào triền sóng khoái lạc, mơn trớn thân xác họ và khiến họ biết tự chiêm ngưỡng sự tồn sinh của bản thân. Hoan không còn nghĩ gì được nữa, hai mi mắt anh từ từ khép lại như để cảm nhận một cách thấm thía hơn cơn xúc cảm ngọt ngào kia. Lúc đó, người đàn bà lật hẳn tấm sơ-mi của anh lên, áp mặt chị ta vào lưng anh trong vài giây như để anh đủ thời gian nhận biết cử chỉ ấy, rồi trong lúc anh đang còn sững sờ chiếc lưỡi mềm mại của chị ta bắt đầu lướt dọc hai thớ lưng anh...



Kỳ 95

Tiếp theo


Hoan ậm ừ. Lúc đó, một cơn gió mạnh thốc vào khiến mùi nước đái bốc lên khai sặc. Hoan đưa mắt nhìn gian buồng, nhớ là đêm qua chính anh cũng đã tiểu tiện vài lần vào xó xỉnh nào đó. Giờ, anh đã phát hiện ra cái góc cỏn con phía sau chiếc chum đựng nước đêm qua người đàn bà ăn sương đưa anh tới. Chiếc chum sành lớn kê nơi góc phòng, dưới chân là một lỗ khoét thông ra ống cống phía sau. Trên miệng chum bập bềnh một chiếc gáo nhựa trắng, một tấm khăn bông nhớt nhát vắt bên. Bức tường vôi loang lổ, những vệt nước ngấm mọc thứ rêu quầng màu xanh xám xen các đám mốc trắng. Hẳn buồng bên kia cũng bần hàn trụy lạc như bên này, cũng một chum đựng nước nơi góc phòng với tấm khăn nhớt nhát và chiếc gáo nhựa cáu ghét, cũng ống cống thoát nước tiểu ngay dưới góc tường đêm đêm khách làng chơi xối tung tóe xung quanh...

Hoan thấy như cảnh buồn nôn này làm mặt anh nhem nhuốc. Anh kín đáo dúi mấy bạc lớn vào tay cô điếm rồi bảo Căng:

- Ta đi thôi...

Khi họ đã ra tới cửa, người đàn bà ăn sương còn nhào theo:

- Cảm ơn anh... Anh còn trở lại đây nữa chớ?

Hoan không đáp. Nhìn vẻ mặt nhớn nhác của người đàn bà anh đoán chắc rằng món tiền Lót dạ trên giường anh cho quá lớn so với lệ thường. Dường như Căng cũng đoán được điều đó. Gã quay lại bảo cô ta:

- Ðược rồi... Sẽ quay lại...

Nhưng khi hai người xuống cầu thang, gã nghiêm mặt nói với anh:

- Ðừng hào phóng rởm... Hang ổ nào cũng có luật chơi của nó.

Hoan không trả lời.

Khi họ ra khỏi ngõ, anh nói:

- Tôi có việc sáng nay.

- Tôi cũng vậy.

Căng đáp tức khắc. Rồi cả hai cắm đầu vùn vụt đi. Sau cùng, họ trở lại chiếc tủ kính bày hàng chồng thuốc lá. Gã chủ đang chờ. Vẫn bộ mặt to quá cỡ, sần sùi, các thớ thịt húc chọi nhau trên lăm cổ vậm vạp như cổ trâu mộng, vẫn đôi mắt hum húp vừa rình mò vừa hờ hững:

- Sao các ông ra muộn vậy?

Căng bảo:

- Mệt. Không bò dậy nổi.

Bộ mặt to phè kia lạnh như kem:

- Trả thêm mười lăm phần trăm phí tổn.

Căng kêu:

- Cái gì?

Hắn bảo:

- Ðúng luật chơi khách phải rời buồng trước còi báo thức thành phố. Giờ ấy cá đổi phiên và chúng tôi chuẩn bị sơ tán cho đám gái đi nghề. Qua giờ ấy khách phải trả thêm phí tổn rủi ro.

- Thôi được.

Căng làu nhàu nhẩm tính tiền đoạn bảo Hoan trả cho gã sáu tờ bạc lớn. Rồi họ xây lưng đi luôn không chào hỏi không ném ánh mắt lại. Gã chủ lầu xanh cũng nhìn họ với cặp mắt trống rỗng dửng dưng.

Hai người trở lại nhà Căng tắm rồi tới quán cà-phê ăn sáng.

Hoan hỏi:

- Anh có cảm giác gì khi rời khỏi nơi đó?

- Chạy càng nhanh càng tốt, tránh mặt được càng nhiều người càng hay. Lơ mơ chạm trán dân làm ăn thì hỏng chuyện.

- Chẳng lẽ bọn họ không ai lui tới đây?

- Có. Nhưng bố thằng nào dám thú nhận.

Hoan bảo:

- Người ta có gia thất đàng hoàng, ít ai đơn lẻ khổ sở như anh với tôi.

Căng cười hơ hớ:

- Chẳng đơn lẻ họ cũng thích nếm mùi vị mới. Hoặc giả vợ họ đã tới tuổi tắt kinh quanh năm tấp tểnh lễ chùa chẳng còn ham chuyện gối chăn nên họ phải mò mẫm tìm nơi giải thoát... Nhưng vì cớ gì, họ cũng sẽ tránh mặt người đời... Như bọn chúng ta đây...

- Con người giả dối thật.

- Ờ nghề buôn của chúng ta giả dối nhất hạng... Ðời đẹp là nhờ sự giả dối...

- Anh nghĩ thế à? Sao cũng có lúc anh thành thật với tôi?

- A... Anh muốn ám chỉ chuyện chơi gái? Phải, chuyện ấy tôi thành thực, thành thực trăm phần trăm. Anh là người tôi cũng là người, chúng ta đều có nhu cầu đại tiểu tiện. Vì thế khi cấp bách ta có thể rủ nhau vào một chuồng xí công cộng để tháo đống bã thải và sau đó quàng chân lên cổ mà chạy... Tôi đố anh đứng lâu trong một cái nhà xí công cộng bẩn thỉu như nhà xí của thành phố này.

- Vậy ra anh chẳng có chút tình cảm nào với người đàn bà đêm qua chia sẻ giường chiếu với anh? Tôi nghĩ hai người quen nhau đã lâu.

- Phải, ngót nghét hai năm... Nhưng tôi không có thừa tình cảm cho bọn đàn bà nằm ngửa lấy tiền...

Căng vừa đáp vừa nhìn xoáy vào mặt Hoan với vẻ tò mò riễu cợt không giấu giếm:

... Mày vờ đấy chứ? Gã lái buôn thành đạt nhất sáu tỉnh miền Trung, bọn có sỏi đầu ở Ðà Nẵng, Sài Gòn cũng phải gờm mặt... Không lẽ mày ngờ nghệch như vậy?

Hoan đọc thấu những ý nghĩ của gã nên đứng dậy trả tiền chủ quán:

- Tôi phải đi.

Căng gật đầu:

- Tôi cũng vậy...

Họ chia tay. Hoan trở về nhà tắm gội lại lần nữa rồi phóng xe ra bờ biển. Anh ngồi ở đó rất lâu, nhẹ nhàng và trống rỗng, chẳng nghĩ ngợi gì chỉ lắng nghe tiếng sóng ban mai nhìn thủy triều khoác tấm áo lam lộng lẫy dưới ánh trời. Trước mắt anh một con dã tràng loe ngoe khua những chiếc còng gày guộc. Bất chợt anh buông tiếng thở dài vì nhớ tới người đàn bà ăn sương gày nhom đôi mắt tô vẽ như mắt chó giấy:

... Dẫu sao ta cũng phải cảm ơn con người khốn khổ ấy... Dẫu sao ta cũng đã mắc nợ cô ta...

Mặc dù Căng bảo rằng đây là việc ăn bánh trả tiền, mặc dù anh đã cho cô ta món Lót dạ trên giường đặc biệt nhưng nỗi xót xa cho kiếp người vẫn ám ảnh. Anh nhớ tới khuôn ngực lép kẹp của người đàn bà, cặp vú dị hình và gương mặt nhem nhuốc phấn.

... Tội nghiệp, liệu khi lau hết son phấn, gương mặt ấy sẽ ra sao?



Kỳ 96

Tiếp theo


Chương 18

Mùa săn tới dải núi phía Tây mang dáng vẻ mơ màng kinh dị. Màu xanh ẩm ướt của rừng xuân điểm những lũng hoa sặc sỡ điểm ngàn cánh bướm sặc sỡ khiến đôi lúc người ta sững sờ ngột ngạt. Trên các lèn đá, những nhánh dương xỉ cực lớn cực mọng vươn lên, thân căng nhựa, rung rinh trong gió, nở to thêm tong mưa bụi, trổ những bông hoa đỏ rợn hồn. Bầu trời lúc xanh veo xanh vắt lúc phủ làn mưa bụi liên xiên trắng như bột vãi, chân trời tựa cặp mắt lúc khép lúc mở thi thoảng gợn lên một dải mây dài và mảnh như tấm lụa óng sắc ngọc trai. Ðột ngột, trong những ngày mưa bụi chưa ngừng, tiếng kèn săn rúc lên góc rừng xó núi, vang tới tận các xóm trại các nương tiêu nương sắn, các dải đồi trồng cà trồng ớt các thung lũng thả bò các dốc lóc cóc bầy dê... Tiếng kèn đó gọi người dân Xóm Núi và các vùng kề cận, khêu trong máu họ mùi vị hoan lạc cổ truyền, dóng lên thứ âm thanh xưa cũ làm rộn ràng máu huyết mời gọi bước chân và thú phiêu lưu. Những người đàn ông lôi cây súng săn cất ở xó kín, gỡ lớp giẻ tẩm dầu mỡ chống rỉ, chọn ngày nắng ấm ra sân lau chùi tra dầu mỡ, đếm lại số đạn dự phòng, tìm mua đạn mới. Rồi một ngày nào đó, họ sẽ vào rừng. Nơi ấy, họ cùng một lần tìm được thú phiêu lưu lẫn thứ thực phẩm thượng hạng, nếm lại mùi vị mê hoặc của huyền thoại mỗi năm chỉ được thụ hưởng một lần nếu thần may mắn chạm tay vào nòng súng. Nơi ấy, cũng có thể khiêng ra những kẻ rủi ro, đầm đìa máu, tay chân gãy cụt, mặt méo mó biến dạng vì gấu tát hổ vồ hoặc vì húc phải lợn độc thứ lợn lòi thành tinh biết đoán định đường đạn biết lẩn tránh hiểm nguy và thích tiêu diệt lọi kẻ thù đi bằng hai chân dưới...

Những người đàn bà trong vùng nhìn dải núi xanh rì, nơi mùa săn lên tiếng gọi chồng con họ mà không dám can ngăn. Họ biết ma lực của màu xanh kinh dị, họ hiểu ma lực của tiếng kèn âm vang quanh quất lúc khoan lúc nhặt, biết lì lẽ và kể cả những giọt nước mắt của họ cũng chẳng mùi mẽ gì trước sức mạnh thần bí của mùa săn. Họ đành lặng lẽ nhìn những người đàn ông vào rừng và âm thầm chờ họ trở về...

Ngay từ đầu mùa săn, Xá chột cùng mấy tay lính phục viên đã tới rủ Bôn nhập hội. Anh không có súng họ sẽ cho mượn súng, anh không sẵn tiền mua đạn họ sẽ cho anh vay tiền mua đạn, anh chưa từng mon men tới cửa phường săn họ cam kết sẽ giới thiệu anh nhập hội, tựu trung họ muốn đề cao thanh thế của cánh cựu chiến binh trong lãnh địa thiêng liêng này, và đó cũng là thứ tình cảm của những kẻ đã cùng xe chia thời cam khổ. Bôn khước từ tất thảy. Anh không muốn vào rừng, cũng chẳng muốn đi săn. Cuộc săn đuổi duy nhất anh dấn thân lúc này không phải cuộc thao diễn trong triền rừng mơ mộng và kinh dị, trong tiếng kèn run rẩy lúc vuốt dài như gió lúc vút cao như tia nước vọt tự mạch ngầm lúc lan tỏa âm u như sương trùm phủ kín núi rừng nương đồi, xóm trại. Anh ngồi trước sân nhìn chân trời phía tây, nghe tiếng kèn gọi bạn săn vọng về thấy tâm hồn anh đang tách khỏi thân xác anh bay lang thang vô định, tâm hồn anh như sợi bồ công anh gió cuốn không biết bay đi đâu, về đâu? Cuộc nỗ lực sinh cho được đứa con xem chừng càng ngày càng vô vọng. Miên đã công khai trở về nhà cũ. Buổi sớm chị đưa đứa con trai về đó, chăm sóc vườn tược, dạy con học vỡ lòng, bàn bạc công việc với người quản gia cho tới bữa cơm chiều mới quay lại với anh. Ðã nhiều lần rình mò, chưa lần nào Bôn bắt gặp người chồng trước trở về đó nhưng khoảng thời gian Miên đi vắng là khoảng thời gian tù đày, anh không thể làm một việc gì cho đến đầu đến đũa, kể cả việc lên núi hái lá Dâm dương hoắc hoặc ngồi nấu những món ăn bổ dưỡng. Anh lật đật làm mọi việc, lật đật đi theo chị vòng vèo quanh quẩn qua đường ngang lối tắt, lúc ghé nhà người quen vờ mượn cuốn họa báo hoặc xin nắm rau thơm, lúc ngồi lì nơi nhà Xá chột hoặc mấy người bạn đồng môn rình rập. Anh thấy mình khốn khổ hèn hạ, nhưng anh không thể không khốn khổ hèn hạ, không thể dập tắt lòng ghen, không thể quên đi hình ảnh chiếc quần đùi sang trọng lớn gần gấp đôi chiếc quần anh mặc, không thể gạt khỏi trí tưởng tượng những so sánh vụng lén và chua xót. Anh nghĩ tới ngôi nhà mênh mông của người đàn ông đó, nơi anh đã qua đêm đầu tiên khi trở về làng, đã trằn trọc trên tấm phản xà cừ nhễu đầy ánh trăng, đã nhìn người vợ ngày xưa của mình như nhìn một bà chủ cao sang và xa lạ... Vào khoảnh khắc đó, anh tưởng đã vĩnh viễn mất chị. Nhưng chị đã trở về cùng anh trong gian nhà lá tồi tàn, sẻ chia giường chiếu với anh. Anh đã tự nghĩ mình là kẻ may mắn nhất trên đời, giống gã ăn mày không những xin được phần xôi lại còn là xôi gấc. Trời cho anh cơ hội vàng và anh sẽ bơi được tới giải bờ hạnh phúc:

... Chiến tranh cũng như đời thường, thằng nào lì đòn thằng ấy thắng...

Anh nhắc thầm câu nói của tiểu đội trưởng mỗi sáng, mỗi chiều như kẻ sùng đạo đọc kinh. Anh lặp lại nó trăm lần như niệm chú trên con đường quen thuộc dẫn tới những dốc đá cheo leo mọc Dâm dương hoắc, anh thì thầm câu đó trong dạ mỗi lần tủi hổ ngửa tay cầm tiền của vợ, anh lập lại nó giữa hai hàm răng nghiến chặt giống kẻ buông lời thề độc sau mỗi cuộc làm tình hẫng hụt sau những nỗ lực không thành và anh đành đứng nhìn Miên tắm ngoài vườn mùi nước lá Thạch trinh hương xông ngút ngát... Nhưng cái điệp khúc ấy lần hồi cũng sờn mòn như thứ vải giặt nhiều lần bằng sút. Lần hồi, Bôn cảm thấy chúng rã ra từng mảnh, tựa những mảnh rêu nổi lều bều trên mặt nước. Anh biết anh không còn đủ can đảm dán dòng chữ đó như dán lá bùa trước ngực để che chắn ma tà để giữ được niềm tin vào bản thân. Một ngày, Miên nhìn thẳng vào anh và nói:

- Từ mai, em sẽ đưa cu Hạnh về nhà cũ, con em cần chơi đùa ở đó. Nó đã chán mảnh sân chật hẹp nhà dì Huyên.

Anh đứng lặng như bị ai đấm vào gáy một cú đau điếng. Mãi sau anh mới cất tiếng nổi:

- Em... Miên đừng làm thế... Xóm làng dị nghị.

Chị lạnh lùng đáp:

- Xóm làng nói gì mặc họ. Em muốn con em được sung sướng. Bố nó ở trên thành phố, chỉ về Xóm Núi ngày Chủ Nhật. Chủ Nhật em sẽ ở lại nhà anh.

Ngừng một lúc chị nói thêm:

- Ở đây, không thứ gì sinh nở ra tiền. Muốn sống phải làm việc. Ðằng kia, em có nương vườn đủ các nguồn thu. Ông già Lư giúp em coi sóc.



Kỳ 97


Tới đó, Bôn tắc họng. Nương của anh vẫn nguyên là mảnh đồi hoang rậm. Anh cuốc đất hai lần thử sức, cả hai lần đều đổ bệnh nằm dán xuống giường cả tuần lễ. Lần đầu, Xá chột nghe tin mang chục trứng tới thăm. Vào lúc Miên sang nhà dì Huyên chăm đứa con trai mọc răng hàm, Xá bảo:

- Cậu tưởng cuốc nương ngon như hồi mười tám hay sao? Lãng mạn bỏ mẹ...

Anh lặng im, và Xá tiếp:

- Cậu biết tay Hoan chồng cô Miên làm nương ra sao không?... Khởi đầu hai vợ chồng họ cũng tay cuốc tay cày như mọi người, nhưng sau đó Hoan đã phá một lúc ba nương tiêu và một nương cà-phê nhờ hoàn toàn vào sức dân Xóm Núi và hai làng phụ cận. Thời đó, hàng hóa cực hiếm, người ta phải phân phối từng chiếc quần đùi tới miếng xà-phòng giặt nhưng anh ta đã kiếm được hàng bao tải áo quần, các loại thực phẩm quý, các loại thuốc lá, rặt những thứ hàng cao cấp sĩ quan quân đội mới dám sờ tới. Hoan nhờ bà con khai nương, trả công bằng hiện vật. Chẳng cứ dân Xóm Núi mà ai ai cũng náo nức đến làm cho anh ta, vừa được tiếng vừa có thứ cần dùng. Bằng cách ấy Hoan khai nương mở rẫy nhanh hơn các nông trường quốc doanh trong tỉnh. Sau ngày hòa bình, hàng hóa không còn khan hiếm như trước, Hoan thuê người trả công sòng phẳng. Anh ta sắm được máy cày tay, máy bơm nước, máy phát điện sớm nhất vùng... Ðã lần nào cậu đến nương rẫy nhà họ chưa?...

- Chưa... Tôi chưa rảnh...

Bôn đáp, dù đã nhiều lần anh lượn lờ thầm vụng ngắm những vườn tiêu và cà-phê của kẻ địch tình.

Xá giương con mắt lành nhìn chòng chọc vào mắt Bôn. Và anh đành nói tiếp một câu vô vị:

- Mà tôi cũng chẳng liên quan gì tới vườn tược nhà họ...

Xá thở dài đánh khượt:

- Dù có rúc đầu vào cát như con đà điểu cậu cũng thua kém người ta đủ bề. Nói cậu đừng giận. Làm người phải có gan nhìn vào sự thật. Từ buổi đầu tôi đã bảo cậu nên tỉnh táo trước hoàn cảnh của mình. Làm sao cậu thắng nổi trong cuộc cạnh tranh?...

- Tôi chẳng cạnh tranh với ai hết... Tôi sống phần đời của tôi, tôi cày mảnh đất của tôi...

Anh nổi sùng, vặc lại Xá. Xá bỏ tay vào giỏ, lấy từng quả trứng đặt lên đĩa cho Bôn, những quả trứng tươi hồng mà Bôn biết rõ là cô vợ đảm đang và tốt bụng của Xá đã nhặt từ dãy ổ gà đặt phía sau chuồng lợn, dưới một túp tranh được gá mấy mảnh ván tạm làm chuồng. Xá hứa với vợ sẽ đóng cho cô chiếc chuồng gà thật oách, đủ nuôi một lần ba chục gà thịt và mười hai ổ trứng nhưng anh ta bận đi rừng, làm nương, đóng đồ mộc, xẻ gỗ và giúp đỡ xóm giềng, làm cái thứ công việc mà mọi người đều gọi là: Ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng... Bởi thế cái chuồng gà vẫn còn là lời hứa và cô Xoan vẫn nuôi gà trong cái chái tuềnh toàng nhưng người đàn bà thảo lảo đó rất mát tay nên mấy bố con Xá quanh năm ăn trứng thỏa thuê:

... Tại sao Miên không chịu nuôi lấy vài lứa gà nhỉ?... Vườn nhà rộng và ta tuy yếu nhưng cũng thừa sức đóng được chiếc chuồng gà... Ta không thể lặn lội rừng sâu làm sơn tràng như Xá nhưng...

Anh nghĩ tới đó chợt dừng lại, bởi anh hiểu Miên không bao giờ nuôi một loại gia súc nào trong ngôi nhà này, nhà của anh. Chị đã thử gieo vài luống cải nhưng cải chưa kịp lớn đám con Tá đã nhổ sạch. Miên sống ở đây như khách trọ. Chẳng ai gieo cấy, nuôi trồng trong mảnh vườn lữ quán... Anh biết Xá có lý nhưng không dám thừa nhận.

Sau cùng, anh bảo bạn:

- Tôi đợi sức khỏe hồi phục, lúc đó tôi sẽ ra tay. Cậu thấy đấy, thời chúng ta đi học...

Xá lắc đầu:

- Liệu bao giờ sức khỏe cậu hồi phục?... Và liệu bao giờ cậu sẽ ra tay?... Tôi đéo tin những chữ sẽ trên đời. Một trăm thằng nói sẽ chín mươi chín thằng bịp.

- Thế anh muốn tôi phải làm gì?

- Cậu không thể sống mãi bằng tiền của cô Miên. Tôi đã nói rồi, ấy là tiền của người đàn ông kia để lại.

- Anh nói lạ... Nếu anh ốm, anh sẽ nhờ vợ anh hay ra đường ngửa tay ăn mày?

Xá bất đồ vung tay đứng dậy, con mắt lành của anh ta long lanh lửa giận và anh ta nói như hét vào mặt Bôn:

- Cậu không ví được với tôi... Nếu tôi ốm, tôi sẽ nằm thẳng cẳng ra giường. Con vợ tôi sẽ phải cơm bưng nước rót, sẽ phải nấu nước lá cho tôi tắm, kì lưng gội đầu cho tôi... Nếu tôi chẳng may bán thân bất toại nó sẽ phải bưng bô đổ cứt cho tôi... Và tôi cũng sẽ hầu hạ nó như vậy nếu chẳng may nó gặp tai nạn, giống như bất kì thằng đàn ông có lương tri nào khác... Nhưng cậu không thể ví với tôi...

Nói tới đó Xá chợt dừng lại đột ngột, cánh tay anh ta buông thõng và anh ta lại ngồi xuống ghế. Bôn biết rằng bạn đã ghìm lại câu nói sau chót, câu nói đó có thể là một đòn quá tàn nhẫn với anh. Hai người lặng im hồi lâu. Sau đó Xá lên tiếng:

- Tôi về đây.

- Phải, anh về.

Anh đáp lạnh lẽo.

Xá ra sân rồi lại quay vào:

- Này Bôn.

- Có chuyện gì vậy?

- Chúng ta là bạn từ thuở cởi truồng, lại cùng là lính giải ngủ, cậu hiểu điều đó chứ?

Bôn ân hận nên dịu giọng:

- Tôi biết anh là người tận tâm nhất với tôi trên cõi đời này.

- Thôi được, nếu cậu hiểu cho tâm địa tôi, tôi xin nói lại lần nữa. Cậu có thể có được một cuộc sống khác, hạnh phúc khác... Tôi nghĩ, có một thứ trong tầm tay cậu...

- Anh lại muốn nói tới cái nông trường với hai trăm cô thanh niên xung phong chứ gì?

- Phải, cậu bạn tôi vừa được bổ nhiệm từ trưởng phòng tổ chức lên thẳng giám đốc. Giám đốc cũ được triệu về Hà Nội. Cậu ấy có thể thu xếp được một chỗ yên ấm...

- Cảm ơn anh nhưng tôi không thể.

- Cậu nhất quyết ở lại đây?

- Ðúng.

- Cậu đã tính kỹ mọi bề?...

- Tôi yêu Miên. Tôi muốn có con với Miên. Ðứa con chúng tôi sẽ hòa trộn hai dòng máu và cô ấy không bao giờ có thể tách khỏi tôi.



Kỳ 98

Tiếp theo


Xá đứng ngây nhìn anh như nhìn người rơi từ sao Hỏa. Dường như anh ta định nói thêm điều gì nữa nhưng sau rốt yên lặng quay đi. Lần này, Xá đi thẳng.

Lượt Bôn cuốc nương lần thứ hai đổ bệnh Xá không đến. Anh ta cho thằng cu lớn đem cho Bôn một mái gà. Nhưng tịnh không lời thăm hỏi. Rồi mùa săn tới, Xá đột ngột cùng bọn cựu chiến binh đến rủ anh vào phường săn. Anh ta vẫn tinh ranh, xốc nổi như thế, con mắt lành vẫn long sòng sọc, tay chân vẫn khua khoắng hăm hở như gã trai tơ... Bôn từ chối, nhưng khi Xá cùng đám bạn săn ra đi anh nhìn theo họ, lắng nghe tiếng cười nói lao xao vui vẻ của họ, thấy tay chân rã rời, chân trời trước mặt anh nứt rạn từng mảng và tâm hồn anh tách khỏi thân xác phiêu du trong không gian vô định. Ðôi lúc, tiếng kêu của lũ bò hay đàn dê nhà ai về chuồng khiến anh bừng tỉnh giấc mê ngày, và anh mường tượng lại cuộc chuyện trò của anh với Xá, nhìn thấy ánh mắt tinh quái sắc nhọn đầy ngờ vực của gã thần hộ mệnh:

... Có lẽ Xá có lý. Ta không thể so sánh với anh ta. Cuộc sống lứa đôi của họ khác ta...

Những cuộc làm tình khốn khổ của anh nối tiếp không ngừng và cũng không ngừng trượt xuống rãnh sâu tuyệt vọng. Dường như càng ngày anh càng đắm đuối càng rồ dại càng quỵ lụy hèn mọn Miên càng lạnh lùng băng giá. Họ thường để đèn đêm và vì thế sau mỗi cuộc làm tình anh không thể không đưa mắt vụng lén quan sát gương mặt chị. Lần nào anh cũng thấy chị nhìn đâu đó với ánh mắt nhẫn nại với vẻ chịu đựng và sự nhờn tởm không che giấu. Rồi sau những giây phút đó, dù trời nóng hay lạnh dù non nửa đêm hay gần về sáng bao giờ chị cũng vùng dậy nấu nước lá Thạch trinh hương ra vườn tắm. Một đêm Tá rình mò, chờ đúng lúc Bôn đi tiểu vào chắn lối hỏi:

- Ðêm nào cô ấy cũng tắm như vịt thế hả?

Hai mắt Tá long lanh như hai hòn than hướng vào anh. Bôn gắt:

- Vợ tôi muốn tắm lúc nào là quyền của cô ấy, không dây dưa đến chị.

Tá thấp bé nhưng lúc đó làm điệu sừng sộ, chống hai tay lên hông.

- Tôi là chị cậu...

Bôn bảo:

- Chị đi ngủ đi.

Tá nói:

- Cha mẹ chết rồi, chỉ còn tôi... Tôi không muốn người ta khinh bỉ cậu.

- Nếu chị muốn người ta đừng khinh bỉ tôi trước hết hãy bảo lũ con thôi vác rá sang đây xin gạo, thôi vác bát sang đây xin thức ăn...

Nói tới đó, một cơn phẫn uất bỗng dưng xộc tới khiến cổ họng anh tắc nghẹn, sống mũi anh cay xè, anh phải cố ghìm nén để không giáng một đấm vào mặt người đàn bà anh phải gọi là chị:

- Ði đi... Vào buồng của chị. Và đừng để tôi nhìn thấy mặt...

Sau cùng, anh gằn từng lời một. Có lẽ điệu bộ dữ dằn của anh khiến Tá sợ. Chị ta làu bàu:

- Ðồ ngu... Người ta muốn tử tế thì lại sinh sự...

Ðoạn quay ngoắt vào buồng. Bôn đứng lại đó, biết Miên đã nghe hết cuộc đối thoại của họ nhưng chị vẫn tiếp tục tắm, tiếng nước xối không ngừng, thong thả và bình thản. Tiếng xối đó như dầu sôi tưới lên mặt anh, da thịt anh, tâm hồn anh:

... Mẹ cha ơi, sao con nhục nhã như vầy?... Uổng bao năm đèn sách?...

Lúc đó, trong anh tiếng hét vọt lên và anh cảm thấy anh cần phải chết, phải giết người hoặc làm điều gì đó để chấm dứt cuộc sinh tồn. Nhưng anh vẫn đứng chôn chân trước cửa gian buồng, trời đêm mát lạnh bên trên, ánh lửa bờ giếng ở ngay trước mặt soi mập mờ da thịt của người đàn bà đang tắm. Anh không biết vì sao, anh vẫn si mê chị. Một nỗi say mê tủi hổ, tuyệt vọng nhưng chẳng cách nào chấm dứt.

... Ta đã chọn con đường này, ta đã đánh hết đời ta vào canh bạc này. Cổ nhân đã dạy rồi: Bước chân đi cấm kì chạy lại. Bước chân lại chó dại cắn chân...

Ta không còn ngả rẽ...

Cứ cho những lời Xá có lý, giờ đây nếu anh tới nông trường kia tìm trong hai số cô thanh niên xung phong quá lứa một bạn tình, chắc gì anh đã hạnh phúc hơn những ngày sống ở Bản Kheo cùng nàng Thoọng?... Những năm lạc đơn vị, bạt rừng, mấp mé bờ cái chết, người đàn bà Lào câm điếc ấy đả ấp ủ anh, che chở anh, yêu thương anh với một tình yêu đắm đuối nồng nàn và đầy nhẫn nhục... Nhưng lúc ấy, anh cũng đã làm tình với chị với vẻ ban phát, lạnh lùng cao ngạo như Miên đối với anh bây giờ. Anh đã nếm đúng thứ quả đắng người đàn bà Lào yêu anh phải nếm. Cuộc đuổi bắt trớ trêu, thứ ái tình oan nghiệt Ông Tạo tròng vào cổ những kẻ rủi ro. Anh nhớ tới gương mặt nàng Thoọng, màu váy áo của nàng và những năm tháng anh gửi lại bên kia cách rừng biên giới...

Dạo đó, anh lạc đơn vị. Trong một cuộc hành quân bí mật mà các hạ sĩ quan và lính tráng chỉ đoán được lờ mờ qua các cuộc tập huấn ngắn ngày, vội vã nhưng vô cùng gay gắt. Ban ngày, tất cả mọi người đều ngủ, nguyên trong trang phục chiến đấu, không rời vũ khí, lá ngụy trang trên mũ và quần. Bắt đầu nhọ mặt người các cánh quân xuất phát không kèn trống, không quân lệnh rõ ràng mà các khẩu lệnh hẹp được truyền từ tiểu đội này sang tiểu đội kia, với một giọng thì thầm như sợ cây rừng là các mạng ra-đa giăng bẫy bắt tin cho địch. Như vậy, họ mò mẫm tiến lên trong bóng đêm, người nọ nối lưng người kia bước nhờ nghe hơi thở, nghe tiếng bước chân, ngửi mùi mồ hôi và thi thoảng, nhờ lân quang rọi chiếu từ những đám nấm lửa hoặc lá mục. Nửa đêm cuối tuần, bom đánh tan tác phân cắt đoàn quân thành các mảnh vụn. Bôn bị bom ném ngất xỉu. Lúc anh tỉnh dậy, xung quanh chẳng bóng người. Trời đã rạng sáng và anh nhận ra anh đang nằm chênh vênh trên đám bụi cây mọc lưng chừng vực. Trên đầu anh là vách đá gần như dựng đứng thả các chùm dây leo, dưới chân anh chừng hai mươi thước là dòng khe róc rách chảy. Có lẽ, chỉ nhờ phép lạ của thần Rừng hay quỷ Núi anh mới rơi trúng bụi cây kia và sống sót. Thứ dây leo mảnh dẻ trên đầu anh ngay đến loài khỉ bầy nặng vài ba cân cũng khó leo huống hồ anh, ít nhất cũng trên dưới nửa tạ. Con đường hành quân giờ chắc đã nát nhừ, và chẳng biết bao nhiêu người đã chết còn bao nhiêu kẻ may mắn sống sót như anh?... Bôn định hú gọi đồng đội nhưng anh ngờ tiếng gọi của anh có thể chỉ đường cho một nhóm thám báo hoặc biệt kích nào đó hơn là những người cùng hàng ngũ. Anh đành nín lặng tìm lối thoát thân.



Kỳ 99


Ðường leo lên không có, chỉ có thể bám sát vào vách đá bò dần xuống lòng vực rồi cứ thế men theo khe nước đi ngược lên. Ðá lởm chởm, thẳng đứng nhưng có những bụi rậm nhỏ hoặc những loài gai bụi từ các hốc đâm ra. Bôn níu lấy chúng, tụt từng bước xuống lòng khe. Phải gần một giờ sau anh mới chạm chân tới đáy vực. Nước cạn nhưng buốt lạnh. Anh lần theo dòng nước đi ngược lên. Năm ngày sau, ăn hết mẩu lương khô cuối cùng anh mới tới được đoạn vực nông lòng, vách đá có thể leo lên được. Tới bờ vực, Bôn nhằm hướng Ðông mà đi, hy vọng gặp đường biên giới nơi những toán giao liên dẫn quân ra vào. Nhưng sau ba tuần sống bằng củ mài với nước suối, anh đặt chân tới một bản Lào heo hút. Mảnh đất hoang vu ấy rất đẹp. Sau những ngày rúc ráy trong rừng anh được vươn thẳng lưng nhìn chân trời, thở hít không khí thoáng đãng giữa thung lũng tràn đầy nắng ấm. Ở đó, mọc thứ cỏ xanh dịu chưa từng thấy trên đất Việt. Men theo các thung, những rặng cây hoa vàng đứng như ngái ngủ. Hẳn chiến tranh không chạm tới đây. Có lẽ đó là sự vô tình hoặc một ngoại lệ hiếm hoi. Bôn nhớ anh đã đứng rất lâu trước thung lũng, nửa như mơ nửa như tỉnh, vừa đói khát rã rời vừa cảm thấy tâm hồn bình ổn lại. Sau một hồi lâu anh mới tiếp tục vượt qua thung lũng vào bản. Buổi trưa im lặng, tiếng chó sủa cũng lười biếng không buồn cất lên, mọi người mọi nhà đều chìm vào giấc ngủ chỉ riêng đám gà trống cất tiếng gáy để đánh thức những rặng cây hoa vàng trong thung lũng. Qua những bụi mía và rừng bí ngô, anh bước tới trước cầu thang ngôi nhà sàn đầu bản. Ðứng dưới dãy đu đủ trĩu trịt quả chín, anh cất tiếng gọi rất lâu nhưng không ai đáp lại. Khi đã hoàn toàn thất vọng, Bôn định lê sang ngôi nhà sàn thứ hai, bỗng có tiếng sột soạt sau lưng. Anh quay đầu lại và tức khắc đôi mắt tròn thô lố ngây dại của một người đàn bà hiện lên trước mặt anh. Cô ta vừa chui ra từ vườn mía ra, một tay cầm con dao đầy bụi phấn, tay kia lôi bó mía.

- Chào cô.

Bôn lên tiếng.

Người đàn bà gật gật đầu, cặp mắt tròn ngây dại vẫn nhìn như dán vào anh. Bôn đang khát. Và anh không cầm lòng đậu liếc nhìn bó mía. Người đàn bà kia hiểu ngay tức khắc. Cô đưa ngón tay trỏ chỉ vào miệng anh rồi nuốt nước bọt khan vài lượt, Bôn hiểu rằng cô bị câm, anh gật đầu, đưa ngón tay trỏ vào cổ họng mình. Người đàn bà Lào giơ tay chỉ về phía cầu thang, phác một cử chỉ cho anh bước theo rồi cô ta thoăn thoắt leo lên trước, vừa leo vừa kéo bó mía theo. Bôn bước theo cô, mùi hôi từ tấm váy người đàn bà thốc vào mũi anh nhưng cảm giác khó chịu ấy kéo dài không lâu khi anh đặt chân lên sàn, bóng râm mát của mái lá che cái đầu nóng bỏng của anh, không gian yên tĩnh mát mẻ vây phủ tấm thân mệt mỏi và tâm hồn rã rời khắc khoải của anh. Nhà sàn nơi đây rất rộng, không có thứ vật dụng gì ngoài những tấm thảm rải vải lanh thêu rực rỡ. Có hai đứa trẻ đang dang chân tay nằm ngủ. Ngủ rất say, chúng không hay biết sự hiện diện của kẻ lữ hành đói khát. Người đàn bà câm lấy bát rót nước từ chiếc ấm sành đặt trên bếp đưa cho Bôn. Anh uống một hơi cạn bát nước mà không kịp nhận biết mùi vị. Người đàn bà tiếp tục rót cho anh bát nước thứ hai đoạn lấy dao chặt mía thành từng khúc. Xong xuôi, chị ta bỏ tất cả mớ mía đã chặt vào chiếc thúng, đặt trước mặt Bôn. Rồi, ngồi xệp xuống bên anh theo kiểu ngồi thường thấy ở những người đàn bà vùng núi, chị cầm khúc mía tước vỏ ăn như để làm gương. Bôn không nói gì thêm, lẳng lặng xước mía ăn liền ba tấm. Gian nhà chỉ vang lên tiếng họ róc vỏ và hít nước. Một thứ âm nhạc câm lặng có đôi phần dung tục, nhưng lúc đó, anh như được hồi sinh. Anh thở. Và chừng vài phút nữa, cơn đói gào réo. Lúc đó Bôn mới biết rằng anh vừa uống hai bát nước chè già, thứ chè dại mọc rất nhiều ở phía Tây dải Trường Sơn, uống thứ chè đó không ngon nhưng rất tỉnh và điều tệ hại hơn, rất đói. Cơn đói trường kỳ của ba tuần lễ dồn vào lúc ấy, khiến Bôn bất giác ôm bụng. Người đàn bà hiểu ngay. Cô đứng lên, lấy trên gác bếp chõ xôi, vét trong đó được hơn một bát đem lại cho Bôn, rồi đưa cho anh một chiếc bát nhỏ hơn đựng muối vừng đen giã lẫn củ sả. Anh đã ăn bát xôi ấy, ngon hơn thảy những bữa ăn ngon lành nhất anh từng được hưởng... Người đàn bà Lào ngồi đối diện với anh , hai bàn tay ấp lên đùi, tấm váy thêu xòa ra trên sàn gỗ. Bôn nhìn những hình hoa văn trên tấm váy, thấy chúng đẹp lạ thường, chúng đã cứu anh khỏi vực thẳm, rừng sâu, sợ hãi đói khát và cô quạnh, lũ cừu thù vây rượt anh gần một tuần trăng:

... Ta còn sống... Dù chẳng tìm được đơn vị nhưng đã may mắn thoát khỏi bọn thám báo lẫn vuốt hổ. Người đàn bà này là thần hộ mạng của ta...

Anh đã nghĩ vậy, tràn ngập lòng biết ơn với cô, hướng về cô ánh nhìn trìu mến và nói:

- Cảm ơn cô.

Người đàn bà chừng như cảm nhận được điều anh nói. Ðôi mắt cô cụp xuống trong một thoáng sung sướng e lệ. Rồi cô chạy vào một trong số ba gian buồng thưng gỗ trên ngôi nhà sàn thênh thang. Lát sau, cô mang ra cho anh một đĩa mứt gừng. Bôn nhấm nháp thứ mức cay sặc, bốc mùi mật mía, toàn thân anh ấm nóng lên mau lẹ và khi anh ăn hết đĩa gừng, mồ hôi anh thoát ra đầy cổ đầy lưng. Người đàn bà đem tới một tấm khăn bông lớn cho anh lau mặt, lau cổ rồi cô tiếp tục đưa tới cho anh một tấm gối. Bôn nằm xuống, mãn nguyện chìm vào giấc ngủ. Anh ngủ như thế cho đến tận sáng hôm sau, một giấc ngủ thần tiên không mê hoảng, không sợ hãi, không phải giỏng tai lên nghe ngóng dè chừng thù địch hay muông thú. Khi Bôn ngồi dậy, ngôi nhà đã đầy người. Tất cả đều ngồi quanh bếp lửa. Và tất cả đều hướng về anh cái nhìn hân hoan, chờ đợi. Trước hết, là một người đàn ông cỡ ngoài ba mươi tuổi, anh đoan chắc là anh ruột của người đàn bà câm vì anh ta có vóc dáng và gương mặt y hệt như cô em nhưng tất thảy các đường nét đều đẹp hơn, tinh tế hơn nhất là đôi mắt xếch sắc lẻm sáng quắc như mắt những kẻ nhập đồng. Vợ anh ta ngồi bên, nhỏ nhắn mũm mĩm như một con búp-bê lớn với cặp má hồng tươi tốt và dù đã có hai con trông chị ta vô cùng trẻ. Ngồi đối diện với cặp vợ chồng người anh và hai đứa con trai họ là một cặp vợ chồng già, rất già... Có lẽ họ phải ngót trăm tuổi nhưng vẻ rất tinh tường, cả hai đều mặc quần áo đẹp. Anh trai người đàn bà câm đứng dậy trước tiên, tiến lại phía Bôn chìa bàn tay cho anh với mối thiện tình không cần lý giải. Bôn cũng đưa bàn tay của anh ra như sự đáp lời. Hai người đàn ông nắm tay nhau. Và đó là thứ ngôn ngữ duy nhất để họ trao đổi. Sau thủ tục ấy, tất cả mọi người đều thở dài khoan khoái, dường như một thứ giao kèo đã được ký nhận, đặc biệt sung sướng là người đàn bà câm.



Kỳ 100


Cô ngồi phía sau chị dâu, hai chân gập lại, tấm váy mới xòe quanh khoe trọn vẹn những đường hoa văn rực rỡ. Anh trai cô nắm tay Bôn dẫn tới trước cặp vợ chồng già. Theo các cử chỉ và vẻ mặt của anh ra, Bôn biết đó là những bậc trưởng thượng trong làng bản, những người có uy quyền cao nhất trong dòng tộc và có thể thay thế sứ mạng của những bậc phụ huynh đã chết. Cặp vợ chồng già lần lượt lên tiếng, vợ nói trước, chồng nói sau, chậm rãi và trang trọng, một thứ ngôn ngữ anh không hiểu nhưng anh đoán được nội dung và sự thô mộc giản đơn của chúng. Anh im lặng, tỏ ý tuân phục, dù cho đến lúc ấy, anh cũng chưa kịp hiểu họ yêu cầu điều gì nơi anh và anh tuân phục những gì?... Ông già nói xong, vẫy người đàn bà câm tới trước mặt Bôn, ông cầm tay Bôn và cầm tay cô, đặt vào nhau. Bôn để mặc cho họ hành động. Anh hoàn toàn như con rối dưới sợi dây số mệnh. Cuộc đời anh trôi dạt đến thế, làm sao còn dám toan tính theo mình?... Bàn tay anh nắm bàn tay người đàn bà Lào xa lạ và sau cái nắm tay ấy hẳn cuộc đời anh sẽ phụ thuộc vào cô, anh lờ mờ hiểu điều đó nhưng chẳng đo đếm, suy tính nhiều hơn. Bởi lúc đó, bàn tay người đàn bà là cây cầu nối anh với đời sống. Bên kia cây cầu là bóng đêm rừng thẳm, là ngọn lửa thiêu trên cao điểm 327, là những cánh rừng bịt bùng ngộp hơi, là xác chết và những bầy chim kền kền độc địa rượt mồi...

Những ngày sau đó tuần tự trôi. Người anh dựng cho cô em hẩm phận một căn nhà sàn, cách ngôi nhà mình không bao xa, chỉ hai nương mía, một vườn bí ngô và một nương bắp. Chính anh ta chứ không ai khác đã kéo từ rừng về những cây gỗ thân tròn, thẳng tắp được đục sẵn đã lâu. Cũng chính anh ta và đám bạn nghề bào đẽo các thân gỗ, đục con xỏ, tính toán ráp nối các vì kèo. Sau đó, anh đánh xe trâu vào rừng lấy lá lợp. Hẳn người đàn ông này đã lãnh trách nhiệm trước những người quá cố rằng anh sẽ thay mặt họ chở che và lo toan cho cô em tật nguyền suốt cuộc đời. Tất cả những gì anh tu tạo cho đứa em gái kia hoàn toàn mang phong thái của bậc cha mẹ. Trong suốt thời gian dựng nhà, Bôn được chỉ định ở lại ngôi nhà sàn của vợ chồng người anh để nghỉ ngơi, bồi dưỡng cho lại sức và tập cách chuyện trò với cô vợ tương lai bằng ngôn ngữ câm điếc. Anh hiểu rằng anh sẽ phải sống với cô một cuộc sống lâu dài nếu không nói là mãn kiếp. Anh không có bản đồ, không địa bàn, không xe ngựa, không có đến cả lòng can đảm để vượt khỏi vùng đất này tìm đường về tổ quốc. Sau bấy nhiêu thăng trầm vật vã một cuộc sống an bình và an toàn đã là tất cả những gì anh ao ước. Ngày lại ngày, nàng Thoọng đun nước lá thơm cho anh tắm, đồ xôi với gà cho anh ăn, nàng nấu thêm một thẩu mứt gừng lớn cho anh uống trà buổi sớm và làm thứ bánh rán mật của người Lào vùng núi cho anh ăn sau bữa xôi chiều. Bỗng dưng anh trở thành nhân vật số một trong gia đình họ. Không khí Bản Kheo êm ả lạ thường, những trận bom sấm sét trên đường Trường Sơn thi thoảng vọng tới những âm vọng mơ hồ hư ảo như thứ tiếng động hậu trường sân khấu ở rất xa. Bầu trời Bản Kheo trong vắt không hạt bụi. Tiếng gà gáy là thứ âm nhạc duy nhất điểm nhịp thời gian. Buổi sáng ong bay rù rì tìm mật, buổi chiều tiếng chim gọi nhau về tổ chiu chít trước mái sàn. Ðêm sương lạnh, bọt củi lách tách nổ khiến không gian càng êm ả, an bình hơn. Trong cái không gian ngái ngủ ấy, anh thả mình trong dòng sống an nhiên lười lĩnh, thân xác được hồi phục, máu chảy dạt dào trong huyết quản và đêm đêm làm tình với người đàn bà bằng xương bằng thịt dù chẳng yêu mê nhưng cô cũng cùng anh cập tới ngọn triều khoái lạc bù lại những năm tháng đói khát dục tình...

Ngày người anh trai đã chuẩn bị đầy đủ vật liệu, dân toàn Bản Kheo xúm tới dựng nhà cho cặp vợ chồng mới, một kẻ lạc rừng ngoại xứ và một người đàn bà hẩm phận chờ đợi hạnh phúc đã ba mươi năm. Nhà dựng trong năm ngày đã xong. Sáng ngày thứ sáu cặp vợ chồng trưởng tộc làm lễ kết hôn cho họ. Cuộc tế lễ ở đây thật đơn giản không hương khói, không pháo nổ, không khăn áo đưa dâu đón dâu. Chỉ lời khấn nguyện của hai bậc trưởng thượng ở giữa trời, cầu chúc thần linh che chở và hạnh phúc được bền vững. Dân bản đứng thành vòng tròn xung quanh chứng giám cuộc nguyện cầu. Sau khi khấn nguyện, các bậc trưởng lão buộc chỉ vào cổ tay cô dâu chú rể. Một đội hát chừng năm bảy bà già cất lên khúc ca ngắn, trong lúc các đứa bé gái ném vào váy cô dâu nắm gạo sống và một nắm hoa. Như thế, lễ kết thúc. Dân bản ngồi xuống ăn cỗ cưới, gồm xôi trắng, thịt nướng và một thứ bánh tựa bánh mật, gói lá chuối được hông trong những chiếc thống hông xôi cao ngang đầu người. Cỗ cưới liên miên suốt ngày, từ sáng tới chiều.

Khi mặt trời xuống núi , ai trở về nhà nấy. Hai chuyến xe trâu chở tới rương quần áo của cô dâu, những tấm nệm mới, một chum muối, những vật dụng làm nương và để hai người ở lại với nhau.

Ðêm hôm đó, vào lúc tiếng xe trâu đã thôi nghiến trên đường, màn đêm buông phủ trong ngôi nhà rộng rênh chỉ còn anh ngồi đối diện với người vợ Lào, Bôn bắt đầu sợ. Anh đã buộc trở thành chủ nhân mái nhà này, đức ông chồng của người đàn bà câm điếc và cuộc sống của anh sẽ được vĩnh định ở nơi đây, mảnh đất hai tuần trước anh còn tưởng như thiên đường nhưng giờ này hứa hẹn buồn tẻ và sầu não. Ngôi nhà sàn riêng biệt là cái cũi nhốt chung anh với người đàn bà câm điếc, không còn những đứa trẻ xinh xắn vui vẻ, không thấy người đàn bà búp-bê có nụ cười tươi tắn, không có những bữa cơn đông đảo dù không có ngôn ngữ chung nhưng mối thiện tâm cũng gắn bó được con người. Giờ đây chỉ trần trụi anh và cô, cô và anh. Lứa đôi. Ðôi lứa. Một cuộc sống thu hẹp tới mức này chỉ tương hợp khi hai người cùng yêu nhau say đắm. Nhưng anh không yêu cô, anh không thể yêu cô. Cơn nguy nan đã lùi lại phía sau. Nỗi đói khát dục tình đã được lấp đầy. Giờ, cô không còn là vị thần hộ mệnh của anh. Cô chỉ còn là chủ nợ, và anh phải trả cô món tiền ân nghĩa. Bôn lén đưa mắt nhìn cô, ánh lửa hắt lên gương mặt thô lậu của cô soi rõ những đường nét lệch lạc, khuyết hãm. Lạ kỳ thay, cùng một vóc dáng, nhưng nét dao lượn của ông Trời chỉ đi xa một ly hay đi gần một ly là đủ biến chàng Tú Ngọc thành quỷ dạ xoa. Những đường nét trên gương mặt người anh trai trông trượng phu và cuốn hút bao nhiêu thì trên gương mặt cô chúng lạc lõng và phản cảm bấy nhiêu. Bất chợt, không nén được anh buông tiếng thở dài. Những tấm váy thêu rực rỡ không cứu nổi cô nữa. Cả đám vòng bạc lóng lánh trên cổ tay cô cũng không còn khiến anh quên đi những chiếc răng lớn như răng ngựa thường nhe ra một cách đờ đẫn mỗi khi cô cười. Cô sẽ không còn đem lại cho anh thứ gì khác hơn vẻ đờ đẫn và những cơn ham muốn dục tình. Ðó là toàn bộ màu sắc cuộc đời lứa đôi phía trước.

No comments:

Post a Comment