Trần Nguyên Thắng/ATNT Tours & Travel
Một trong những biểu tượng của Bhutan thường được thế giới
biết đến, đó là hình ảnh một ngôi tu viện nằm lơ lửng giữa chừng dốc núi cao.
Hình ảnh tuyệt đẹp này đã lôi cuốn hấp dẫn nhiều du khách đến xứ Phật Bhutan để
thưởng ngoạn không gian lạ lùng và hiếm có này. Hình ảnh ngôi tu viện chính là
tu viện Taktshang ở thành phố Paro. Taktshang có nghĩa là Tiger's Nest hay tạm
dịch “trú xứ” của Hổ.
Paro, đây không phải là thành phố lớn nhất và cũng không phải
là thủ đô của Bhutan, nhưng lại là thành phố duy nhất có sân bay đủ rộng để đón
tiếp các chuyến bay quốc tế đến Bhutan du ngoạn. Dù đã tham dự rất nhiều chuyến
bay đi nhiều nơi trên thế giới, nhưng có lẽ chuyến bay từ Kathmandu đến Bhutan
là một chuyến bay cho tôi nhiều cảm giác thích thú và khó quên nhất. Hình ảnh
mà tôi cho là đẹp nhất chính là lúc bạn may mắn được thưởng ngoạn không gian
Himalayas với đỉnh Everest và các đỉnh núi cao khác vượt hẳn lên trên biển mây,
nhìn không khác gì các “hải đảo” nằm rải rác trên biển mây trắng toát và bầu trời
xanh thẫm.
Trước khi máy bay hạ cánh, bạn sẽ có dịp thấy tài nghệ của
các viên phi công Bhutan, giữa hai dãy núi cao bao bọc thành phố họ điều khiển
phi cơ bay lượn trên thung lũng Paro. Ðây cũng là lúc mà tôi cho là hình ảnh đẹp
thứ hai mà bạn có thể thưởng thức từ trên máy bay, nhưng lúc này lại cho bạn cảm
giác rất là thích thú, tựa như bạn là chim bay lượn giữa không trung. Hình ảnh
những thảm ruộng xanh tươi bên dưới thung lũng, xen lẫn với con đường phi đạo độc
nhất của sân bay (dài 2.8km) nằm song song bên
cạnh con sông Pachu cũng là một
hình ảnh độc đáo “chào mừng” du khách. Người ta còn cho tôi biết, tất cả các
chuyến bay đến Paro đều phải do các viên phi công Bhutan lái, group này chỉ có
khoảng 10 viên phi công có đầy đủ kinh nghiệm để đem lại sự an toàn cho các
chuyến bay.
Từ Paro đi về hướng Tây Bắc khoảng 12km là đến khu vực ngọn
núi tu viện Taktshang. Phóng tầm mắt nhìn xa, vào ngày trời trong không mây,
người ta có thể nhìn thấy chấm nhỏ các ngôi đền hiện lên lưng chừng gần trên đỉnh
núi. Nếu bạn thích chụp ảnh thì đừng quên máy ảnh bạn cần có một độ zoom lớn
thì mới có hy vọng ghi lại được hình ảnh tu viện Taktshang vào ống kính.
Thành phố Paro ở trên độ cao 2,100m (so với mực nước biển),
còn Taktshang nằm trên triền một núi cao hơn Paro gần 900m (có nghĩa tu viện
cao gần 3,000m). Tuy chỉ cao hơn một chút, nhưng cuộc hành trình du ngoạn leo
núi Taktshang cũng làm nhiều du khách bỏ cuộc vì con đường lên đến Taktshang rất
dài, gập ghềnh cao dốc khó đi, không bằng phẳng chút nào. Bạn cần ba tiếng đồng
hồ để lên núi và hai tiếng để xuống núi. Tuy nhiên, giữa đường lên núi có một
trạm dừng chân nghỉ mệt. Ðứng ở đây bạn cũng có một khoảng không gian đẹp để ngắm
nhìn tu viện Taktshang trên cao, và bạn đã đi được “nửa đoạn đường chiến binh”
rồi đó! Nhưng đây cũng là lúc bạn lượng lại sức mình còn có thể tiếp tục cuộc
hành trình hay không! Hay bạn sẽ “hạ sơn” cho thoải mái đôi chân. Lúc này lời
hát của người nhạc sĩ họ Trịnh bỗng dưng rất thích hợp cho du khách “...Mỏi quá
chân ta này, tìm đến chiếc ghế nghỉ ngơi...” Nhưng nếu bạn đã bị “mỏi gối chồn
chân” rồi thì xin hãy rất cẩn thận vì khi đi lên núi thì dễ, nhưng
xuống núi mới
quả là một vấn đề nan giải cho hai đầu gối bạn.
Vượt qua khỏi quán nghỉ chân bên đường, chắc hẳn bạn đã ở
trên một độ cao 2,600m. Phong cảnh cây cối bên vách núi lẫn bên vực thẳm cũng
có đổi thay. Spanish Moss là tên một loại dây leo màu xanh lam nhạt, quấn vào
các cành cây và buông rũ xuống như những cành liễu lả lướt tung bay theo gió tạo
cho cảnh núi rừng thêm phần thơ mộng. Ở Bhutan loại cây leo này chỉ xuất hiện ở
các vùng có độ cao. Một khi bạn đã gặp cây leo Spanish Moss, cho dù lúc này bạn
có muốn quay lưng “hạ sơn” xuống núi thì cũng trễ rồi vì “tiến thoái lưỡng nan
đi về đều... ngại” cho đôi chân mình. Thôi thì đành miệng niệm “Nam mô A di
đà,” mắt dõi theo hình ảnh ẩn hiện của ngôi tu viện để chân vui bước quên đi
bao mỏi mệt trên
đường lên núi.
Những gian nan khó nhọc đó bạn sẽ được trả công xứng đáng
khi bạn vượt lên đến điểm cao ngang ngôi tu viện. Ðứng từ núi bên này nhìn qua
không gian núi bên kia, bạn sẽ thưởng ngoạn cả một không gian thần tiên trần thế
trước mặt. Ngôi tu viện Taktshang, “trú xứ” của Hổ sừng sững đứng tựa bên vách
núi, những hàng lá phướn Tibet kéo ngang suốt từ đỉnh núi tu viện qua đến nơi bạn
đứng, tung bay trong gió. Gần đó một suối thác nước giữa hai ngọn núi tuôn đổ
xuống vực sâu tạo ra âm thanh “thác đổ.” Thác không lớn quá nhưng cũng không nhỏ,
vừa đủ tạo ra một âm thanh hòa lẫn với không gian hùng vĩ trước mặt khiến lòng
du khách tưởng chừng như đang lạc một nơi chốn thần tiên có thật ở cõi trần
này. Ðây là không gian đẹp nhất của Taktshang: hình ảnh ngôi tu viện tựa vào
vách núi, phong cảnh rừng bao la, núi hung vĩ, đá núi thẳng đứng, thác nước
tuôn đổ xuống vực sâu, lá phướn tung bay trên bầu trời xanh ngát, mây gió hòa
quyện hồn du khách lại thành một. Không một máy video nào hay camera nào có thể
ghi lại không gian tuyệt diệu này ngoại trừ chính đôi mắt và tâm tư bạn. Tôi chợt
bừng tỉnh với dấu hiệu “hợp nhất là một” của Phật Giáo Nepal. Sau lần đến viếng
thăm tu viện Tashilhunpo của Ban Thiền Lạt Ma tại thành phố Shigatse bên Tây Tạng,
ở đây tôi đã có dịp chiêm ngưỡng pho tượng Ðức Phật Di Lặc lớn nhất (cao 27m)
trong khu vực Himalayas (Tibet, Nepal, Bhutan) với cặp mắt của ngài qua những
nét điêu khắc tuyệt đẹp, trông rất nhân từ và trí tuệ. Từ đó tôi đã yêu thích đôi
mắt Ðức Phật Di Lặc ở Shigatse mà tôi cho rằng không có nơi nào diễn tả hơn được
nữa cả. Ðến Nepal, tôi gặp lại đôi mắt từ bi ấy. Nét vẽ đôi mắt rất đơn sơ,
nhưng lại chứa đựng cả một triết lý sống lý tưởng cho con người. bên dưới giữa
hai con mắt là một chữ viết giống như dấu hỏi. Nhưng đây là cách viết theo lối
chữ Phạn có nghĩa là số 1, đồng thời là ý nghĩa của sự hợp nhất. Cách viết chữ
Phạn này làm nhiều người thưởng ngoạn ngộ nhận xem đó như là một dấu hỏi. Một dấu
hỏi của đời sống!
Phía trên giữa trán là một dấu chấm tròn, tượng trưng cho
“điểm giác ngộ.” Con mắt trái (từ phía người xem) tượng trưng cho sự từ bi và
con mắt phải biểu tượng cho trí tuệ. Ôi, chỉ vài nét vẽ “nguệch ngoạc” đó mà
hàm chứa được tất cả ý nghĩa đời sống con người, cho những ai muốn vượt bến mê,
phá vỡ vô minh để nương theo sự từ bi trí tuệ. Bi kịch nhất của con người là ảo
tưởng, là “tưởng”! Tôi “tưởng” tôi từ bi! Tôi “tưởng” tôi trí tuệ.
Biển mây “tưởng” che lấp cả đỉnh núi Everest và dãy
Himalayas. Ngày nay tín đồ Phật Giáo tại Nepal không còn nhiều, nhưng ảnh hưởng
Phật Giáo trong nếp sống của người dân Nepal rõ ràng vẫn còn hiện diện. Lumbini
(Lâm Tì Ni) của Nepal là nơi Ðức Phật đản sinh, là một trong Tứ động tâm hành
hương
của Phật Giáo trên toàn thế giới. Cũng may cho Nepal, một trong Tứ động
tâm này cũng đã ít nhiều giúp đỡ nền kinh tế còn yếu kém của Nepal ngày nay.
Trở lại câu chuyện Taktshang, bạn đang đứng núi bên này nhìn
ngóng về không gian núi bên kia với một tâm thức cởi mở nhẹ nhàng, không một
chút vướng bận đến mọi chuyện vây quanh. Ðường chim bay nhìn sang ngôi tu viện
chỉ là một đoạn đường ngắn ngủi, nhưng không dễ dàng như thế, bạn hãy còn một
ít thử thách. Muốn sang bên tu viện, bạn còn phải đi xuống vài trăm bậc thang,
xuống tận nơi nước thác đổ và từ đó bạn lại phải leo lên cả trăm bậc thang nữa
mới được vào chùa lễ Phật. Phải chăng Ðức Phật hay Ngài Liên Hoa Sinh vẫn muốn
thử thách đức tin của bạn!
Tôi hít hơi thở thật sâu vào trong lồng ngực, chậm rãi thở
ra bằng miệng. Tôi lần xuống nơi thác nước đổ lúc nào không biết. Thác có tên
là thác Dakini. Dòng nước thác được người Bhutan tin là nước thánh, dòng suối
nước mà vị bồ tát “Yeshey Tsogyal,” vợ ngài Liên Hoa Sinh ném chuỗi tràng hạt
vào tảng đá, và từ đó mở ra dòng suối “cam lồ” tuôn chảy ra cứu độ chúng sinh.
Tôi bước vội qua thác cho ít nước thánh thấm lạnh nhẹ vào người, quên đi hết những
nhọc mệt của đoạn đường núi vất vả.
Tôi đã đến được nơi “trú xứ” của Hổ!
Một khi bạn đến được
nơi cây cầu bắc ngang suối thác nước thánh Dakini là bạn đã đến “Trú xứ của Hổ”
Taktshang! Chào đón người du khách là một dãy bậc thang cao có đến hơn trăm bậc
để thử lòng tin của mọi người. “Trú xứ của Hổ” không có cổng “tam quan,” chỉ có
một điện thờ nhỏ bên hốc đá với hàng chữ “Holy Water,” chắc có một nhánh suối
nước thánh nhỏ chảy ngang qua đây. Nhưng quan trọng hơn cả là hàng chữ “No
Video-Camera-Cell phone,” thế là bạn đành phải gửi chúng lại cho văn phòng
Security giữ hộ trước khi vào chùa. Tu viện không cho phép du khách chụp hình
quay phim “hang tổ của Hổ.”
Tu viện Taktshang là một tu viện của Bhutan nổi tiếng trên
thế giới nhờ cách kiến trúc chùa cheo leo bên sườn núi cao và các truyền thuyết
về chùa từ thế kỷ thứ 8. Như truyền thuyết về Ngài Liên Hoa Sinh cưỡi thần Hổ từ
phương xa bay đến, ngài chọn hang động Taktshang làm nơi tu tập và thiền định ở
đây. Vì thế người ta còn gọi nơi đây là Tiger's nest (hang Tổ của Hổ), nhưng thần
Hổ này không phải là ai xa lạ mà chính là biến thân của công chúa Bhutan
TashiKhyiden, vợ của ngài, nên tôi gọi “trú xứ của thần Hổ” cho thêm phần tôn
kính.
Lên trên khu vực tu viện, có rất nhiều điện thờ được xây trên sườn núi. Nếu bạn
muốn tìm hiểu thật kỹ về ý nghĩa của từng ngôi đền ở đây, bạn phải mất khá nhiều
thời giờ. Tuy nhiên bạn cần để ý thời gian Chùa mở cửa cho khách thập phương đến
viếng thăm rất giới hạn.
Theo các tài liệu, Phật Giáo Ấn Ðộ được truyền sang các đất
nước vùng Himalayas bao gồm Tibet, Nepal, và Bhutan từ những thế kỷ sau công
nguyên. Song Phật giáo nguyên thủy từ Ấn Ðộ khi đến khu vực này đã có những điểm
đôi chút khác nhau tùy theo phong tục và tập quán của từng địa phương. Ngày nay
Nepal là đất nước hầu như 85% người dân thuộc về tôn giáo Hindu. Phật Giáo còn
lại chăng chỉ có ảnh hưởng mạnh tại Tibet và Bhutan!
Người dân Bhutan rất tôn sùng đạo Phật. Họ thờ và tôn kính một
vị Guru (giống như Phật-Bồ Tát) là Guru Padmasambhava (Guru Liên Hoa Sinh).
Truyền thuyết kể rằng vào thế kỷ thứ 8, một tu sĩ từ Ấn Ðộ sang Bhutan và Tibet
truyền giáo pháp Phật Giáo. Tên ông là Guru Padmasambhava, ông được sinh ra từ
sự tích tụ tinh hoa của đóa hoa sen bên hồ Dhanokoshi của xứ Uddiyana (thuộc về
Pakistan ngày nay). Lúc sinh ra ông đã là một đứa bé 8 tuổi rất thông minh và
trí tuệ. Ông được nhà vua Indiabodhi tìm thấy. Nhà vua rất yêu quí và nhận ông
làm con. Vua còn dự định nhường ngôi lại cho ông. Nhưng ông đã không nhận ngôi
vua mà lại chọn một hướng đi khác.
Ông tu tập và có phép thần thông biến tướng khôn lường nên rất
nhiều ma quái yêu tinh chịu thua và hàng phục ông. Vào thời gian đó, vua Sendha
Gyalpo của xứ Bumthang bệnh nặng, mời ông sang chữa bệnh cho vua. Không những
chỉ chữa khỏi bệnh cho nhà vua, ông còn giúp nhà vua giải quyết được một số
công chuyện triều chính. Cảm kích ơn ông, nhà vua đã gả công chúa Tashi Khyiden
cho ông. Ông nhận lời và sau đó biến tướng thành Dorje Drolo (một trong tám
hình tướng hiển thị của ông) và Công Chúa Tashi Khyiden cũng thuận ý biến thành
dạng thần Hổ theo ông. Dorje Drolo cưỡi thần Hổ đến hang động Taktshang, nhận
thấy nơi đây rất thuận tiện cho việc tu tập và thiền định nên ông và thần Hổ đã
tạm trú ở đây. Sau một thời gian tu luyện ba năm ba tháng ba tuần ba ngày ba giờ,
ông thành tựu trong khả năng có thể hiển thị hình tướng thành tám dạng, có tám
danh xưng khác nhau. Mỗi một biểu thị danh xưng của ông đều có một ý nghĩa khác
nhau trong triết lý Phật Giáo Bhutan.
Guru Liên Hoa Sinh chọn Taktshang làm nơi xây dựng Phật giáo
và tạo ra nhánh Phật giáo Nyingmapa (Ninh Mã) Bhutan. Từ đó Taktshang trở thành
một Thánh địa Phật giáo Bhutan và Guru Liên Hoa Sinh được người dân Bhutan tôn
kính và thờ, xem ông như là một vị bồ tát bảo vệ che chở và cứu giúp cho họ.
Trên điện thờ, tượng của Guru Liên Hoa Sinh luôn luôn được tôn kính đặt bên cạnh
tượng Phật Thích Ca Mâu Ni hay Vô Lượng Thọ Phật.
Sự tu luyện thành tựu của ông được nhiều người biết đến, vua
Tibet lúc đó là Triden Detsen nghe danh ông, cho vời ông đến giúp đỡ công việc
triều chính và Phật pháp. Cũng giống như nhà vua xứ Bumthang, vua Triden Detsen
đã gả một vị công nương tên Yeshe Tsogyal cho ông như một lời cám ơn. Yeshe
Tsogyal là người sau này đã đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc ghi
chép lại những giáo lý mà ông đã thuyết giảng. Có thể ví bà như ông Anan đã ghi
chép lại những lời giảng của Phật Cồ Ðàm cho chúng sinh. Công lao của Guru Liên
Hoa Sinh rất lớn đối với các đất nước trên dãy núi Himalayas.
|
Tranh vẽ Guru Liên Hoa Sinh, thần Hổ Tashi Khyiden, công nương Yeshe Tsogyal và tám hình tướng hiển thị của ngài. (Hình ATNT Tours & Travel) |
Về “hang Tổ của Hổ hay Trú xứ của Hổ” (Tiger's Nest), đây là
một hang động nhỏ nằm trên triền núi do các khe nứt tạo thành. Một cầu thang nhỏ
dẫn du khách dẫn xuống đến nơi thiền tọa của Guru Liên Hoa Sinh và Hổ. Từ hang
động nhỏ bé này du khách có thể phóng tầm mắt nhìn xuống không gian thung lũng
Paro Valley xanh ngát rừng cây xanh thẫm, đồng ruộng xanh tươi và các dãy núi
hùng vĩ trùng trùng điệp điệp nối tiếp nhau. Guru Liên Hoa Sinh chọn nơi đây
thiền định thì quả là không có gì đáng ngạc nhiên!
Bên trên hang động Tiger's Nest là ngôi điện thờ nhỏ dành
cho Guru Liên Hoa Sinh. Gần đó, một điện thờ chính của tu viện có tên là “Dorji
Drolo Shrine.” Ðây có lẽ là nơi thu hút tôi nhất tại Taktshang. Leo lên ít bậc
thang, vừa cởi giầy bước chân vào điện thờ, tôi sững người vì các pho tượng lớn
và rất đẹp! Vô Lượng Thọ Phật với đôi mắt từ bi trí tuệ là tượng lớn nhất ở giữa,
bên trái ngài là tượng Guru Liên Hoa Sinh trong tư thế tọa thiền, bên phải là
tượng Dorje Drolo đang đứng trên lưng thần Hổ, hai tay ngài cầm các bảo khí
trong tư thế thị uy đánh đuổi đi sự sân hận yêu tinh ma quái trú ngụ trong tâm
thức con người. Chân thần Hổ giẫm đạp lên một người nam (tượng trưng cho sự giận
dữ) và một người nữ (tượng trưng cho sự đố kị ghen tuông). Sau cùng là hai pho
tượng Vajrasattva lớn, được dựng ở hai bên tả hữu điện thờ. Vajrasattva tượng
trưng cho sự hợp nhất từ bi và trí tuệ, gồm một người nam và một người nữ trong
tư thế mặt đối mặt, chân chồng chân, tay cầm các bảo khí để hàng phục ma quái xấu
xa. Hình ảnh này chắc hẳn không quen mắt với các tông phái Phật giáo khác. Theo
tôi, mỗi một tông phái tôn giáo cho dù có cùng một đức tin, nhưng họ đều có con
đường đi khác nhau miễn sao “con đường” đó chỉ là phương tiện đưa tất cả con
người về đến cùng một điểm giác ngộ - giải thoát khỏi bể khổ trầm luân của trần
thế. Tuy nhiên, các con đường đi này đều có những phép tắc kỷ luật riêng của nó
mà mọi người phải tuân theo, không được lạm dụng để thỏa mãn cái “ngã” của
mình. Ðức Phật dạy chúng sinh về vô-ngã, nhưng con người lạm dụng ngôn từ “vô
ngã” để thỏa mãn “bản ngã” thì “hằng hà sa số”!
Ðiều này làm tôi chợt nhớ đến một câu chuyện thiền thâm
thúy. Một vị học giả uyên thâm nghe danh
tiếng một vị thiền sư. Ông quyết định
đến thăm để có cơ hội tranh luận về sự uyên thâm của ông. Vị thiền sư mời ông
ngồi và rót nước trà mời ông. Vị thiền rót nước trà đầy tràn cả ly nhưng hình
như ông vẫn không biết, cứ mải tiếp tục rót thêm nước trà vào ly. Vị học giả
không chịu được, bèn nói với vị sư,
“Ngài có biết ly trà đã tràn đầy rồi
không”! Vị thiền sư nhẹ nhàng trả lời, “Như ngài thấy đó, ly nước đã tràn đầy
nên tôi cố rót thêm trà mời ngài mà vẫn không được, nước trà tràn ra ngoài vì
bên trong ly đã có đầy nước, ly không còn chỗ chứa ít nước trà tôi muốn mời
ngài!” Một khi thành kiến, tri kiến đã đầy ắp trong trí óc, còn đâu khoảng trống
dành cho một chút suy tư khác! Tôi cố gắng bỏ bớt đi những thành kiến trong đầu
để tiếp nhận thêm những điều mới mẻ trong nếp suy tư của Phật Giáo Bhutan và
Tibet.
“Trú xứ của Hổ” đòi hỏi tôi phải có một tâm tư như thế!
Trên đường xuống núi, tôi chợt bắt gặp một hình ảnh khó phai
nhòa trong ký ức. Một cụ bà lưng đã còng 90 độ, cụ đi lên núi ngược chiều với
tôi, tay cụ chống gậy để đỡ lấy chiếc lưng còng. Cụ lững thững lên xuống mấy
trăm bậc thang để vào thăm “Trú xứ của Hổ.” Tôi ngớ ngẩn nhìn theo bước đi của
cụ, hình ảnh cụ cho tôi một cảm nhận khó diễn tả bằng lời. Không hiểu cụ nguyện
cầu điều gì nơi Vô Lượng Thọ Phật! Cụ cầu khấn điều gì ở Ðức Liên Hoa Sinh! Cụ
mong mỏi điều gì nơi “Trú xứ của Hổ”! Dáng đi lững thững khoan thoai thong thả
với chiếc lưng còng của cụ, ngay trong sát na đó cụ cho tôi cảm
nhận sự biến
thân của Ðức Quán Thế Âm. Ngài không giảng dạy cho tôi bằng ngôn ngữ, Ngài dạy
tôi
bằng hình ảnh của đức tin, của ý chí, của sự vươn lên bất chấp tuổi tác con
người. Ðức tin và ý chí không có tuổi, chỉ có thân-tạm-bợ con người có tuổi với
thời gian. Tôi cúi đầu chào và lòng thầm cám ơn cụ. Cụ mỉm cười chào lại mà
chân vẫn không ngừng bước. Hình ảnh này cũng chợt làm tôi nhớ đến ngọn núi Linh
Thứu bên Ấn Ðộ, nơi Ðức Phật đã từng giảng kinh Hoa Nghiêm và ngày nay là một
thánh địa hành hương của tín đồ Phật Giáo. Núi Linh Thứu không cao và tương đối
dễ đi. Một ngày nọ, sau buổi lễ trên đỉnh Linh Thứu các cụ già lần lượt đi xuống
núi, chỉ riêng một nhà sư trẻ khỏe mạnh đã không đi bộ xuống với đoàn, nhà sư
ngồi kiệu cho người võng xuống núi. Hình ảnh đó đã cho tôi thấy đường vào địa
ngục ở ngay ngọn núi thiêng Linh Thứu. Ôi, thiên đàng địa ngục đều nằm ở một tấm
áo khoác ngoài! Vượt qua khỏi thiên đàng địa ngục phải chăng chỉ có thánh nhân!
“Trú xứ của Hổ” còn rất nhiều truyền thuyết về các phép lạ của
các vị Guru nối tiếp Guru Liên Hoa Sinh. Chùa được xây vào năm 1692 và được
trùng tu lại nhiều lần vì nhiều lý do như động đất, hỏa hoạn, và cũng vì sự vô
thường của thời gian. Lần trùng tu gần nhất vào năm 1958. Các cột chùa bằng gỗ
đã được thay thế bằng các viên đá thẻ. Nhưng mái chùa vẫn được dùng gỗ để giữ vẻ
xưa cổ kính. “Trú xứ của Hổ” trở thành một biểu tượng tôn giáo, văn hóa và danh
địa của xứ sở mưu cầu tổng sản lượng “hạnh phúc” cho người dân. Song song với sự
nổi tiếng địa danh “Trú xứ của Hổ Taktshang,” Bhutan's Dzong là một điểm văn
hóa và kiến trúc về thành lũy, cung điện, tu viện hoàn toàn khác lạ mà chúng ta
không thể thiếu khi đi du ngoạn Bhutan.








No comments:
Post a Comment